|
Trang 1 của 7 Có thể nói quyển "Hài Nhi Tóc Bạc" là một sự "rong chơi" trong suối nguồn của những suy tưởng. Và vì thế, nó được bố cục thành bốn phần: đó là "Tự thuật", "Suy tưởng", "Vấn nạn" và "Câu chuyện triết học.” Riêng đối với phần II, phần III và phần IV - được xem như là những bình phẩm triết học nhằm góp phần soi sáng những giá trị và tư tưởng Phật giáo; trong đó, một số bài tôi đã cho đăng rải rác trên nguyệt san Giác ngộ với nhiều bút hiệu khác nhau.
Khi viết tập sách này, người viết dường như mong muốn gởi gắm một điều gì đó đến với bạn đọc, đến với người đang ở tuổi hai mươi.
Hài Nhi Tóc Bạc
Thích Tâm Thiện
Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh. PL. 2542 – DL. 1998
(Trong Phần IV.tiết III nguyên bản ghi là C. chúng tôi sửa lại là Phần 4. III cho thống nhất với cách phân chương tiết của toàn quyển. bttdtkvn)
Mục Lục
Lời dẫn
Phần 1: Tự thuật
I. Giá trị của tình yêu thương ngây ngô
II. Lao đao với niềm tin chông chênh
III. Ðạo lý của niềm tin
IV. Sức mạnh của niềm tin
Phần 2: Suy tưởng
I. Căn nhà vô minh
II. Bước chân đi của tâm thức
III. Cuộc sống tương duyên
IV. Tiếp xúc và cảm thọ
V. Yêu thương và nắm giữ
VI. Trôi lăn theo bánh xe sinh tử
Phần 3: Vấn nạn
I. Vấn nạn về tình yêu
II. Vấn nạn về khổ đau và hạnh phúc
III. Vấn nạn về giá trị
IV. Khả tính vô biên của tình yêu
Phần 4: Câu chuyện triết học
I. Gandhi - con người của những vĩ đại
II. Sự ảnh hưởng Phật giáo trong triết luận của Arthur Schopenhauer
III. Phật giáo và dòng triết học Nietzsche
IV. Tư tưởng Phật giáo và Hiện sinh thuyết của Jean Paul Sartre.
LỜI DẪN
Vào khoảng đầu năm 1996, tình cờ tôi được xem một bức tranh của họa sĩ Samyot Hananundasule, trong cuộc triển lãm dưới chủ đề "Nhìn lại quá khứ" tại Viện Nghệ thuật Quốc gia Thái Lan. Ðó là một bức tranh có nhan đề là "Hài nhi của thế giới thứ ba" (Third World Baby), được vẽ vào năm 1976. Bức tranh này được in trên tờ nhật báo Bangkok Post.
Ðối diện với bức tranh, tôi bổng dưng bàng hoàng xúc động trước những ấn tượng lạ lùng và nhiệm mầu. Bức tranh vẽ một em bé mới chào đời với gương mặt đầy dẫy khổ đau - những nếp hằn in đậm trên trán, nếp nhăn trên má và đôi tay ve vẩy khóc than. Bức tranh lại được phụ chú với hàng chữ "Chiến tích trở lại sau hai thập kỷ.” Hẳn bạn đọc cũng hiểu rằng đó chính là sự mô tả về hậu quả chiến tranh sau hai mươi năm mà con người phải gánh chịu.
Hài nhi già cỗi trước tuổi đời là một ảnh tượng hãi hùng đối với con người. Vì nó đã đánh mất tất cả... nhưng cũng chính khuôn mặt già cỗi đó lại là nơi hội tụ, ngưng đọng của mọi tạo tác không phải do Thượng đế, mà do chính tư duy và hành động của mỗi con người. Ðây là nguồn cảm xúc vô tận và lặng lẽ mà mãi đến năm 1997, tôi mới viết lại qua bài thơ "Hài nhi tóc bạc", và đến đầu năm 1998, tôi lại viết thành tập sách dưới nhan đề cùng tên.
Có thể nói quyển sách này là một sự "rong chơi" trong suối nguồn của những suy tưởng. Và vì thế, nó được bố cục thành bốn phần: đó là "Tự thuật", "Suy tưởng", "Vấn nạn" và "Câu chuyện triết học.” Riêng đối với phần II, phần III và phần IV - được xem như là những bình phẩm triết học nhằm góp phần soi sáng những giá trị và tư tưởng Phật giáo; trong đó, một số bài tôi đã cho đăng rải rác trên nguyệt san Giác ngộ với nhiều bút hiệu khác nhau.
Khi viết tập sách này, người viết dường như mong muốn gởi gắm một điều gì đó đến với bạn đọc, đến với người đang ở tuổi hai mươi.
Sài Gòn, mùa Hạ 1998
Tác giả
PHẦN 1: TỰ THUẬT
Người từ vô tận tái sinh
Ði qua trần thế mang tình nhân gian
Rồi từ cuộc mộng vừa tan
Quê hương một độ bàng hoàng ra đi
Ngày về bạc tóc hài nhi
Nắng chiều nhẹ đỗ thầm thì trên vai
Giã từ giấc mộng thiên thai
Vô biên ngày ấy Như Lai gọi về.
Tôi xin vào đề từ câu chuyện của một thằng bé. Nó ra đời ngày 21 tháng 7 năm 1970 tại một thành phố sương mù nằm xa xa dưới chân đỉnh LangBiang. Bố mẹ của nó là người mộ đạo. Thuở nhỏ, mỗi ngày vào mùa Hạ, nó thường theo bố mẹ lên chùa lễ Phật. Và cứ mỗi lần lên chùa như thế, trên đường về, cảnh Phật luôn luôn khơi dậy trong tiềm thức của nó. Nó nhớ sư ông, nhớ Phật, nhớ tiếng kinh, tiếng kệ... Sự nhớ nhung đó như là lời réo gọi phát ra từ đáy thẳm của tâm thức, khiến nó suy nghĩ về một con đường - trở thành một tu sĩ. Ðến năm lên 6 tuổi, nó đã xuất gia theo Phật. Thế là, cuộc sống nội tâm của nó bắt đầu.
I. Giá trị của tình yêu thương ngây ngô
Sau khi xuất gia, thằng bé đã thoát ly gia đình và sống với một vị sư già trong một ngôi chùa nhỏ nằm ở vùng ngoại ô của thành phố. Trong những ngày sống xa mái ấm gia đình, lần đầu tiên nó cảm nhận được một giá trị, đó là tình yêu thương ngây ngô, một thứ tình yêu chỉ có ở tuổi thơ. Và chỉ có khoảng cách của không gian và thời gian mới làm cho giá trị của tình yêu đó sáng ngời. Thằng bé, trong những tháng ngày đó, luôn luôn đối diện trước những mâu thuẫn của nội tâm. Lý trí đang dắt dẫn nó đi tìm về một con đường lý tưởng. Nhưng con tim thì mong muốn được sưởi ấm trong tình yêu thương của bố mẹ và gia đình. Nó không thể nào quên được nụ cười, ánh mắt của mẹ, sự nghiêm nghị của cha, sự cùng đùa cợt vui chơi với anh chị em... Tất cả hồi tưởng đó là một cuốn nhật ký mà lúc nào và đi đâu nó cũng mang theo; có lẽ, cho đến bây giờ. Và cũng từ sự xa cách đó mà nó nghĩ rằng mình đã đánh mất tình yêu thương, một thứ yêu thương đầu nguồn trong đời sống của con người. Ðó cũng là tình yêu đầu tiên trong các loại tình yêu; một thứ tình yêu trong sáng và cao thượng phát sinh từ mái ấm gia đình, một thứ tình yêu thống thiết như "quê hương mỗi người chỉ một.” Tình yêu thương đầu nguồn này sẽ quyết định cho vận mệnh yêu thương của mỗi con người.
Về sau, tôi mới hiểu rằng, không, thằng bé không hề đánh mất tình yêu thương đầu nguồn, mà trái lại, nó đã nhận diện được tình yêu thương đó ngay khi nó nghĩ rằng mình đã đánh mất. Chính suy nghĩ đó là một sự nhận diện sâu sắc mà không ai dạy bảo, một sự trực nhận từ nội tâm. Mất mát ở đây, thực ra chỉ là một sự lãng quên, như người khỏe mạnh ít khi nào bận tâm đến sức khỏe. Chỉ khi ngã bệnh, lúc đó, anh ta mới thực sự biết sức khỏe là gì và giá trị của nó như thế nào. Và cũng chính khi ấy, anh ta mới nhận diện được giá trị của sức khỏe. Cũng vậy, tình yêu không thể nói là có hay là không. Tình yêu là một yếu tố thường trực, sẵn có nơi mỗi tâm hồn. Vấn đề là ở chỗ, bạn có nhận diện được nó hay là không. Và chúng ta cũng biết rằng, một tâm hồn nếu thiếu vắng sự yêu thương, thì ở đó, chính là hỏa ngục.
II. Lao đao với niềm tin chông chênh
Sau khi xuất gia nhập đạo, tôi bắt đầu tập làm quen với nếp sống tu sĩ bằng cách cố tìm niềm vui ở chốn nhà thiền, niềm vui trong sự yêu thương của vị sư già, niềm vui trong những rễ cây mít ngoài sân chùa, niềm vui với lời kinh tiếng kệ. Mặc dầu tôi cố làm như thế để bù đắp lại khoảng trống vắng mênh mông trong tâm hồn của mình, nhưng tuyệt vọng! Vì tất cả niềm vui đều có giá trị của nó, và mỗi niềm vui đều có tương quan với nhau. Tuy nhiên, chúng không thể thay thế cho nhau. Lúc đó, tôi dùng tất cả niềm vui, kể cả sự yêu thương cao quý của vị sư già, để thay thế cho tình yêu của cha mẹ, nhưng không được. Vì lẽ, như đã nói, mỗi thứ tình yêu khác nhau đều có giá trị khác nhau, và mỗi giá trị đó đều có tương quan với nhau nhưng không thể thay thế cho nhau. Và như thế, đời sống quân bình của tôi, hay cũng như mọi người, sẽ trở nên chông chênh, nếu đánh mất một giá trị nào đó trong cuộc sống. Và giá trị cơ bản nhất để thiết lập sự quân bình cho đời sống chính là niềm tin. Mọi sự thành đạt đều được xây dựng trên niềm tin. Con người ta sẽ trở nên lao đao với niềm tin chông chênh.
Hồi đó, từ lúc xuất gia cho đến năm 16 tuổi, tôi đã lao đao với niềm tin chông chênh. Và năm tôi 16 tuổi, niềm tin của tôi bị sụp đỗ. Khi ấy, mọi giá trị mà tôi làm ra cho tôi cũng đều bị sụp đỗ. Vì ngay từ đầu, tôi đã xây dựng một niềm tin sáng ngời và trọn vẹn với trái tim không chủ động. Nghĩa là càng tin tưởng thì càng mất hút và tan biến vào đối tượng được tin tưởng. Tôi tin Phật, nhưng Phật của tôi là một đấng quyền năng, có sức mạnh chi phối toàn bộ đời sống của tôi. Tôi tin Pháp, nhưng Pháp của tôi chỉ là những bài kinh cầu nguyện. Tôi tin chư Tăng, nhưng Tăng của tôi chỉ là bóng dáng của sự yêu thương. Ôm ấp một niềm tin u huyền đó mà tôi đi qua ngày tháng với khát vọng và khổ đau. Vì đấng quyền năng vô hạn chưa một lần cứu rỗi tôi trong khi tôi lâm râm cầu nguyện mỗi ngày. Sự cứu rỗi mà hồi đó tôi cho là có thực, thật ra chỉ là nơi gởi gắm mọi khát vọng, mọi tội lỗi; và đổi lại cho sự gởi gắm đó, tôi nhận được một sự xoa dịu, chỉ vậy thôi. Phật của tôi, cho đến năm 16 tuổi, là như thế. Tất nhiên với một niềm tin như vậy, chỉ đem lại sự khủng hoảng và trống không cho tôi khi tôi rơi vào hoạn nạn. Niềm tin đó không có giá trị gì, ngoài sự xoa dịu mà thôi.
Năm 16 tuổi, một sự thay đổi niềm tin đã đến với tôi qua một cơn hoạn nạn, lúc đó, Thầy của tôi đã qua đời. Bấy giờ, tôi không còn tin tưởng ai ngoài chính tôi. Tôi không còn nương tựa ai ngoài chính tôi và những lời dạy của Phật mà tôi đã được học. Và bài học Nhân quả chính là cơ sở của một niềm tin mới - một niềm tin đã đem lại hạnh phúc và bình an thật sự cho tôi. Và cho đến bây giờ, sức mạnh của niềm tin trong tôi chính là đạo lý Nhân quả. Tôi đã ngộ được điều đó.
III. Ðạo lý của niềm tin
Sau khi Thầy tôi qua đời, tôi bắt đầu một mình sống và đối diện với cuộc đời. Và cũng từ đó, từ đối diện, tôi phải chuyển sang đối đầu với những khó khăn. Và đó cũng là lúc tôi nhận nơi tôi một nghị lực mãnh liệt mà niềm tin Nhân quả đã cho tôi. Tôi chấp nhận tất cả thành tựu cũng như thất bại của chính mình.
Tôi nhớ rất rõ, sau tang lễ của Thầy tôi, tôi không còn cuộc sống bình yên nữa. Lúc đó, tôi phải lang thang tá túc trong nhiều chùa để giữ vững chí nguyện đang bị héo mòn và xóa nhòa trong những lầm lỗi của mình. Trong những tháng ngày phiêu bạt đó, tôi phải trải qua nhiều thách thức. Cuối cùng, tôi vượt qua tất cả và nhận ra một điều: "Hãy tin và sống theo Nhân quả thì sẽ được bình an, ngay cả khi sống với những hậu quả tồi tệ nhất.”
Vì lẽ, khi tin vào Nhân quả, bạn sẽ nghĩ rằng không ai có thể ban ơn hay giáng họa cho ai ngoài con người chính mình. Cho đến khi nào bạn còn trông chờ một sự cứu rỗi nào đó từ bên ngoài, thì khi đó, bạn vẫn đứng trước bến bờ của vực thẳm, khủng hoảng, vì bạn chưa làm chủ được tâm lý của chính mình. Ngược lại, nếu tin và sống theo Nhân quả thì lập tức bạn sẽ nghĩ rằng chính mình phải chịu trách nhiệm về mọi tư duy và hành động do mình tạo tác. Khi suy nghĩ như thế sẽ tạo nên một sức mạnh vô hình ngay trong tâm của mình. Mình không phải chạy trốn khổ đau nữa, mà trái lại, xem nó và chấp nhận nó như một đứa con tật nguyền mà chính mình đã sinh ra. Từ đó, thay vì chạy trốn khổ đau, bạn sẽ bắt đầu nhận ra một điều: yêu thương khổ đau. Sự chấp nhận khổ đau và yêu thương khổ đau không phải là điều bất hạnh, mà nó là điều kiện cần thiết để xây dựng hạnh phúc chân thật. Khổ đau hay không là tùy thuộc ở thái độ tâm lý của mỗi người, như câu tục ngữ đã nói: "Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đỗ ruột.” Tuy nhiên, khổ đau dù sao đi nữa, cũng luôn luôn là chất liệu tạo nên sức mạnh cho con người.
IV. Sức mạnh của niềm tin
Có thể nói rằng, cuộc sống tâm thức của tôi bắt đầu trỗi dậy sau những lỗi lầm, lao đao, tuyệt vọng như câu nói thời danh: "Con người té ngã trên mặt đất và cũng nhờ nơi mặt đất mà con người đứng dậy.” Nhờ tỏ ngộ đạo lý Nhân quả nên tôi không hề mặc cảm với những lỡ lầm lạc lối của mình. Trái lại, tôi đã quyết tâm xây dựng cho chính mình một đời sống mới, một niềm tin mới căn cứ trên cơ sở của đạo lý Nhân quả.
Khoảng năm 18 tuổi, lại một lần nữa tôi rời bỏ quê nhà để tha phương học đạo. Tôi vận dụng hết năng lực của mình cho việc học hành. Và kết cuộc, 10 năm sau đó, không ai có thể ngờ được, tôi đã thành công - một sự thành công ở ngưỡng cửa cuộc đời. Từ đó, tôi đã tìm được việc làm trong một cơ quan văn hóa của Phật giáo. Và tôi đã tìm được con người của chính tôi, một con người bắt đầu từ lao đao với niềm tin chông chênh. Và cũng từ đó, tôi thấy được giá trị và sức mạnh của niềm tin trong sáng. Niềm tin là một yếu tố quyết định cho sự thành đạt. Nhưng niềm tin đó phải là niềm tin được xây dựng trên cơ sở của đạo lý Nhân quả.
|