Home Tông Phái Phật Giáo Tịnh Độ Tông Tin Sâu Pháp môn Tịnh Độ
11 | 03 | 2010
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật giáo và đời sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Tin Sâu Pháp môn Tịnh Độ PDF. In Email
Tông Phái Phật Giáo - Tịnh Độ Tông
Viết bởi Thích Tâm Hải   
Chỉ mục bài viết
Tin Sâu Pháp môn Tịnh Độ
Tin Sâu Pháp môn Tịnh Độ Ch. V -
Tin Sâu Pháp môn Tịnh Độ Ch. VIII-
Tin Sâu Pháp môn Tịnh Độ Ch. X-
Tin Sâu Pháp môn Tịnh Độ Ch. XIII-
Tất cả các trang
Sự thù thắng và phổ cập của Pháp môn Tịnh độ cho quảng đại quần chúng ngoài sự giới thiệu của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, còn có các vị Bồ tát khuyên bảo mọi người nên nguyện vãng sinh về Tây phương như Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, các vị Tổ sư cả Thiền lẫn Tịnh như Vĩnh Minh, Trí Giả, Triệt Ngộ, Liên Trì, Thiện Ðạo, Ngẫu Ích, đều là những vị Thiền sư nổi tiếng bên Thiền tông, sau khi Tham thiền đạt ngộ, chuyển hướng niệm Phật cầu vãng sinh. Thật phải nói Pháp môn niệm Phật là vua trong tất cả các pháp. Trong Kinh Niệm Phật Ba La Mật phẩm thứ 6, đức Quán Thế Âm nói rằng: “Trọn đời Ðức Phật Thích Ca giáo hóa điều phục chúng sinh, Ngài đã ban ra tám vạn bốn ngàn Pháp môn để cho chúng sinh tu tập, nhưng trong đó Pháp môn niệm Phật là thù thắng đệ nhất.”

Tin Sâu Pháp môn Tịnh Độ

Thích Tâm Hải

Nhà Xuất Bản Tôn Giáo Hà Nội. PL. 2548 – DL.2004

MỤc LỤc

Lời Nói Đầu

I. Tiểu Sử Phật A Di Đà

II. Phát Nguyện Nhân Duyên

III. Giã Từ Quán Trọ Nhớ Về Cố Hương

IV. Chánh Báo Và Y Báo

V. Quy Hướng Tịnh Độ

VI, Sự Lựa Chọn Pháp Tu

VII. Sự Lý Viên Dung

VIII. Sinh Tử Là Việc Lớn

IX. Quy Y Tam Bảo.

X. Tại Sao Phải Phát Tâm Bồ Đề?

XI. Tín - Hạnh - Nguyện

XII. Khoa Học Biện Chứng.

XIII. Phương Pháp Niệm Phật

XIV. Các Mối Nghi Về Tịnh Độ.

Trên bước đường tu tập, phụng sự Tam bảo của chúng con, nếu có được một ít niềm vui, tất cả đều nương trên con đường gia hộ của chư Phật và nhờ vào ân đức quý báu của Thầy.

Tập sách nhỏ bé này ra đời là nhờ Thầy đã trợ duyên và khuyến hóa chúng con nhiều lắm! Nếu có công đức, trước chúng con xin hướng về Thầy, sau đến pháp giới chúng sinh.

Lời Nói Đầu

Kinh Pháp Hoa dạy, Ðức Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên lớn “khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến.”

Chính vì thế, sau khi thành Phật, bằng tất cả tấm lòng Đại từ, Đại bi, Đại hỷ, Đại xả, Ngài đã chu du khắp nước Ấn Ðộ để hoằng hóa độ sinh. Chỉ với mục đích là làm sao đưa hết thảy chúng sinh đang chìm đắm trong bể khổ Vô minh trở về với đời sống đầy An lạc và Giải thoát.

Tuy nhiên, trên bước đường hoằng hóa độ sinh đó, Ðức Phật đã nhận thấy rằng chúng sinh đời Mạt pháp căn tánh không đồng, có kẻ thì căn tánh thượng, có kẻ thì căn tánh trung, có kẻ thì căn tánh hạ. Cho nên, Ðức Phật không chỉ dùng một phương tiện mà phải dùng vô số phương tiện để nhiếp hết thảy chúng sinh trở về với Phật tánh. Tuy có vô số phương tiện nhưng duy nhất chỉ có một vị Giải thoát mà thôi, cũng giống như nước trong bốn bể tuy nhiều nhưng duy nhất chỉ có một vị mặn.

Pháp của Ðức Phật cũng giống như một trận mưa lớn xuống trần gian, tùy theo mỗi loại thích ứng tiếp nhận lượng nước của mình mà nuôi sống.

Hôm nay, là thời kỳ Mạt pháp, với cách nhìn khách quan của mọi người, đại đa số chư Tăng, chư Ni và toàn thể tín đồ Phật tử ưa chuộng Pháp môn Tịnh độ. Chắc có lẽ Pháp môn Tịnh độ hợp thời và hợp căn cơ sao? Ðúng vậy, Tịnh độ tông không chỉ dành riêng cho bậc hạ căn mà còn thâu nhiếp bậc trung, thượng căn nữa. Vì vậy trong Kinh Tượng Pháp quyết nghi cũng nói:

- Chúng sinh ở thời Chánh pháp, tu Giới luật dễ thành tựu.

- Chúng sinh ở thời Tượng pháp, tu Thiền định dễ thành tựu.

- Chúng sinh ở thời Mạt pháp, tu Tịnh độ dễ thành tựu.

Trong Kinh Niệm Phật Ba La Mật, phẩm thứ sáu, đức Bồ tát Quán Thế Âm nói rằng: “Ðức Thích Ca trọn đời giáo hóa điều phục chúng sinh đã ban bố tám vạn bốn ngàn Pháp môn tu tập nhưng trong đó niệm Phật là thù thắng đệ nhất.”

Sự thù thắng và phổ cập của Pháp môn Tịnh độ cho quảng đại quần chúng ngoài sự giới thiệu của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, tiếp theo còn có các vị Bồ tát khuyên bảo mọi người nên nguyện vãng sinh về Tây phương Cực lạc như Ngài Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ, các vị Tổ sư cả Thiền lẫn Tịnh như Vĩnh Minh, Trí Giả, Triệt Ngộ, Liên Trì, Thiện Ðạo, Ngẫu Ích đều là những vị Thiền sư nổi tiếng bên Thiền tông, sau khi Tham thiền đạt ngộ, chuyển hướng niệm Phật cầu vãng sinh.

Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ, Tổ thứ ba của Thiền Pháp Nhãn cũng là Tổ thứ sáu của tông Tịnh độ đã nói:

“Hữu Thiền hữu Tịnh độ

Du như đới giác hổ

Hiện thế vi nhân sư

Lai sinh tác Phật Tổ.”

Nghĩa là:

Có Thiền có Tịnh độ

Như hổ mọc thêm sừng

Hiện đời Thầy trời người

Vị lai làm Phật Tổ.

Chư Phật, chư Bồ tát, chư Tổ cực lực xiển dương Pháp môn Tịnh độ. Với sự lợi lạc thật lớn lao này, chúng tôi cũng không ngại gì với tài mọn, đức kém của mình, để viết lên đây cuốn sách với tựa đề: “Tin Sâu Pháp môn Tịnh Độ.” Chỉ với tâm nguyện là đem lại lợi lạc cho mọi người, chứ không có ý cao ngạo, ngã mạn gì cả.

Ðây là cuốn sách đầu tiên, chúng tôi không sao tránh khỏi những sai lầm trong lối hành văn. Nếu có, kính mong chư Hòa thượng, chư Thượng tọa, các thân giáo sư, các vị học giả góp ý dạy bảo để cho cuốn sách ra đời được tốt đẹp hơn.

Mùa An cư kiết hạ PL. 2547

Cẩn chí

Tâm Hải

Kính thưa quý vị,

Ðề tài mà chúng tôi có duyên được trình bày cùng quý vị hôm nay thuộc một lãnh vực rất phổ thông, song cũng rất quan trọng, bởi vì nó liên hệ đến rất nhiều người theo đạo Phật. Ðó là Pháp môn Tịnh độ, một Pháp môn mà hầu hết các Phật tử đều quen biết. Ðúng vậy, từ khi đạo Phật du nhập vào nước ta đến nay đã trải qua biết bao nhiêu sự thăng trầm nghiệt ngã của lịch sử, đứng trước sự kinh hoàng đầy cay đắng đó Phật giáo Việt Nam vẫn mãi là một cây cổ thụ đứng vững để che mát cho nhân loại mà không hề bị tàn lụi. Dù trong mọi hoàn cảnh nào, Phật giáo Việt Nam luôn luôn sát cánh với dân tộc, hòa nhập với dân tộc như nước với sữa, thật là đúng như mấy câu thơ của thi sĩ Hồ Dzếnh:

“Trang sử Phật,

Ðồng thời là trang sử Việt,

Trải bao độ hưng suy,

Có nguy mà chẳng mất.”

Và đây, Pháp môn Tịnh độ, cũng vậy, như một dòng suối trong lành, mát dịu cứ mãi tuôn chảy vỗ về đến từng trái tim son của người dân Việt Nam mà không hề ngưng nghỉ. Chắc có lẽ Pháp môn Tịnh độ đã trở thành một nguồn sống tinh thần ăn sâu vào tâm thức của mỗi người dân Việt Nam chúng ta.

Thậm chí, từ những em nhỏ cho đến những cụ già vẫn thường nở trên môi bằng câu niệm “Nam mô A Di Ðà Phật.” Không chỉ vậy, bây giờ câu niệm Phật đã trở thành một ngôn ngữ giao tiếp và cũng là món quà dễ mến cho toàn thể chư Tăng và tín đồ Phật tử.

Thật phải nói Pháp môn Tịnh độ là một Pháp môn thích đáng, khế hợp mọi căn cơ, dễ tu, dễ chứng mà chư Phật trong mười phương đã dùng Pháp môn này để cứu vớt hết thảy chúng sinh xa rời nẻo khổ, chứng đắc Niết bàn ngay trong một đời.

Ðức Phật quán thấy chúng sinh đời Mạt pháp đa số là những bậc hạ căn, đầy dẫy phiền não, phước mỏng nghiệp dày. Vì lòng bi mẫn mà Ngài đã thương tưởng đến chúng sinh, với lòng Từ bi vô hạn, Ðức Phật đã giới thiệu một cảnh giới Tịnh độ của Phật A Di Ðà, để cho chúng sinh nương nơi tha lực bản nguyện của Phật A Di Ðà mà được vãng sinh.

Pháp môn Tịnh độ được hình thành trong ba bộ kinh Tịnh độ:

1. Phật thuyết A Di Ðà Kinh

2. Phật thuyết Vô lượng thọ Kinh

3. Phật thuyết Quán Vô lượng thọ Kinh

Bộ kinh Tịnh độ này được hình thành tại Ấn Ðộ do Ðức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni nói ra chứ không phải do một ông Thần ông Thánh nào nói cả. Ðể cho những ai đã theo và đang theo Pháp môn Tịnh độ, tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên Pháp môn này thì hãy lắng nghe Ðức Thế Tôn dạy: “Vô lượng Bồ tát ở mười phương thế giới muốn nghe thuyết về Pháp môn Tịnh độ mà không được toại nguyện. Giả sử khắp tam thiên đại thiên thế giới bị nạn hỏa thiêu, nếu ai có được nghe giảng về Pháp môn Tịnh độ mà phải băng qua miền lửa cháy thì cũng cố nên vượt qua để được nghe diệu pháp này.”

Lời Phật đã dạy như vậy, đủ chứng tỏ giá trị siêu việt của Pháp môn Tịnh độ hay Pháp môn niệm Phật cầu vãng sinh Cực lạc quốc cao tột đến mức độ nào.

I. TIỂU SỬ PHẬT A DI ĐÀ

A Di Đà là phiên âm từ chữ Phạn Amitabha, nghĩa là ánh sáng vô lượng (Vô lượng quang), sống lâu vô lượng (Vô lượng thọ). Sở dĩ chữ “A Di Đà” không dịch nghĩa mà chỉ phiên âm, vì theo Huyền Trang Tam Tạng Pháp sư, có năm loại danh từ không dịch nghĩa (ngũ chủng bất phiên):

1) Danh từ bí mật.

2) Danh từ nhiều nghĩa.

3) Danh từ không có ở Trung Quốc.

4) Danh từ đã có dịch từ xưa.

5) Danh từ khiến người tôn kính.

Vì Amitabha là danh từ nhiều nghĩa, bí mật và được người đời tôn kính nên không dịch. Trong kinh Tiểu Bản A Di Đà, Đức Phật Thích Ca dạy: “Này Xá Lợi Phất! Ý ông nghĩ sao? Phật kia vì sao tên gọi A Di Đà? Xá Lợi Phất! Phật kia có ánh sáng vô lượng chiếu khắp cõi nước trong mười phương không chướng ngại, nên gọi A Di Đà. Lại nữa Xá Lợi Phất! Phật kia cùng nhân dân sống lâu vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp, nên gọi A Di Đà!”

Phật A Di Đà tượng trưng cho Phật tánh chúng sinh, vì tánh ấy vô thỉ đến nay chưa hề sinh diệt, nên đồng nghĩa sống lâu vô lượng. Tánh ấy trùm khắp mười phương, tuyệt nhiên yên lặng, chiếu sáng thời thời, nên đồng nghĩa ánh sáng vô lượng. Tóm lại, về tướng mà nói, Phật A Di Đà là vị giáo chủ của cõi Cực lạc Tây phương, hiện đang thuyết pháp; trên tánh mà bàn, A Di Đà chính là Phật tánh tất cả chúng sinh. Thường sống với Phật tánh chính là Đạo, là trở về với cái vô sanh, bất diệt. Từ vô lượng kiếp Phật A Di Đà thực hành Bồ tát hạnh, trang nghiêm diệu độ.

Rải rác trong các kinh, Đức Phật Thích Ca thường nói đến điều này. Như kinh Pháp Hoa kể, vào thời Như Lai Đại Thông Trí Thắng hóa đạo, lúc ấy có 16 vị vương tử xuất gia, ưa giảng nói kinh Pháp Hoa, về sau đều thành Phật. Vương tử thứ chín hiện là Phật A Di Đà, vương tử thứ 16 chính là Đức Phật Thích Ca.

Kinh Bi Hoa ghi, thuở xưa, có vua Vô Tránh Niệm và đại thần Bảo Hải, đồng đối trước Như Lai Bảo Tạng, phát tâm Vô thượng Bồ đề. Chuyển luân Vô Tránh Niệm phát nguyện: “Khi thành Phật, tôi nguyện ở nơi thế giới An lạc, thanh tịnh, luôn nhiếp thọ chúng sinh trong mười phương thế giới.” Đại thần Bảo Hải nguyện: “Khi thành Phật, tôi nguyện ở vào thế giới năm trược (kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược) để độ chúng sinh thoát khổ não.” Vua Vô Tránh Niệm ngày đó giờ là Phật A Di Đà, đại thần Bảo Hải chính là Phật Thích Ca. Hai vị tuy đồng đại nguyện nhiếp độ chúng sinh, nhưng một vị chỉ ra cõi khổ để chúng sinh nhàm chán, một vị bày mở cõi vui để khuyến dụ chúng sinh về.

Lại nữa, kinh Cổ Âm Vương viết, thời quá khứ, trong nước Diệu Hỷ, có vị quốc vương tên Kiều Thi Ca, ông nội là quốc vương Thanh Thới, cha là Chuyển luân vương Nguyệt Thượng, mẹ Thù Thắng Diệu Nhan, sinh ra ba quí tử: Con cả tên Nguyệt Minh, con thứ tên Kiều Thi Ca và con út là Đế Chúng. Lúc ấy, có Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai ra đời, Kiều Thi Ca bèn bỏ ngôi vua, theo Phật xuất gia, hiệu là Tỳ kheo Pháp Tạng. Một lần, Pháp Tạng tuyên phát bốn mươi tám nguyện hóa độ chúng sinh, thề nếu không thành, quyết không giữ ngôi Chánh giác. Khi ấy, mười nghìn thế giới chấn động mạnh, giữa không trung phát ra lời ngợi khen rằng: “Lành thay! Lành thay! Ngài nhất định sẽ thành Phật!”

Trong kinh Vô Lượng Thọ, thuở Phật Thế Tự Tại Vương còn trụ thế, có vị quốc vương nghe Phật nói pháp, lòng thường vui vẻ, phát tâm Bồ đề, thôi làm vua, xuất gia thành Sa môn, hiệu Pháp Tạng. Ngài thông kinh điển, tài đức vượt hơn người. Phật Thế Tự Tại Vương, theo bản nguyện của Ngài, dạy cho cách trang nghiêm diệu độ. Về sau, Ngài thành Phật, hiệu A Di Đà, hiện là giáo chủ cõi Cực lạc Tây phương.

II. PHÁT NGUYỆN NHÂN DUYÊN

1) Lòng Đại từ

Tỳ kheo Pháp Tạng khi rời cung vua, phát tâm Vô thượng, tự nghĩ rằng: Chúng sinh trong mười phương, muôn đời chịu khổ, không bao giờ dừng. Ngài khởi Đại bi, muốn lập một Tịnh độ, tiếp dẫn chúng sinh về đó tiến tu. Bèn đến bạch với Thế Tự Tại Vương Như Lai rằng: “Nay con phát tâm Vô thượng, muốn cứu khổ muôn loài, xin hãy vì con chỉ bày cách thực hành, trang nghiêm diệu độ, nhanh chóng viên mãn Bồ đề, nhổ bật gốc rễ đau khổ cho chúng sinh.”

Phật Thế Tự Tại Vương biết Pháp Tạng có lòng Đại bi vô lượng, nên nhân đó dạy: “Như có biển lớn, một người muốn tìm của báu, bèn dùng đấu để lường, nhiều kiếp đi qua, biển có thể cạn. Nay ngươi có lòng đại nguyện muốn cứu khổ chúng sinh, ta sẽ vì ngươi, tuyên bày giảng nói!” Xong, bèn dùng thần lực, hiện ra 200 ức quốc độ của chư Phật. Pháp Tạng thấy vậy, mừng rỡ vô cùng.

2) Quyết tâm tu hành

Sau khi nghe Phật Thế Tự Tại Vương giảng bày về các quốc độ thanh tịnh, Pháp Tạng nghi nhớ, tâm vô cùng tịch tịnh, tinh tấn, nghiêm mật tu hành qua năm kiếp dài. Ngài chọn những điểm thù thắng nhất trong các cõi Phật thù thắng, xây dựng thế giới Tịnh độ. Bạch điều này lên Phật Thế Tự Tại Vương, Đức Phật hoan hỷ thọ ký và nói cùng đại chúng: “Trong tương lai không lâu, Bồ tát Pháp Tạng này sẽ thành tựu đại nguyện!”

3) Cách thức trang nghiêm Tịnh độ

Trang nghiêm nghĩa là trang hoàng, làm thành, xây dựng. Cõi Tịnh độ An lạc là do Ngài Pháp Tạng quyết tâm tùy theo nguyện mà thực hiện thành tựu. Khi mới phát tâm, cõi này vẫn có ba đường dữ, Ngài hiện thân tu Bồ tát hạnh, độ hết thảy chúng sinh dứt bặt tham sân si, tiến tu dự vào hàng Bất thối.

Trên nền tảng 48 đại nguyện, Tỳ kheo Pháp Tạng xây dựng quốc độ của mình bằng ba phương diện nhiếp pháp hàng đầu: Nhiếp Pháp thân nguyện, nhiếp Tịnh độ nguyện và nhiếp Chúng sinh nguyện.

a) Nhiếp Pháp thân nguyện: Là nguyện xây dựng Phật thân. Bồ tát chọn quả Phật thân để đem công đức trang nghiêm, thệ nguyện trang nghiêm thành tựu pháp thân chư Phật, ánh sáng vô lượng, thọ mạng vô cùng.

b) Nhiếp Tịnh độ nguyện: Là nguyện xây dựng cõi Phật. Sau khi thành Phật, Bồ tát đem công đức trang nghiêm quốc độ, tất cả đều bằng thất bảo: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xà cừ, xích châu, mã não...

c) Nhiếp Chúng sinh nguyện: Là tiếp độ và giáo hóa chúng sinh, gồm cả phàm phu và Thánh trí.

III. GIÃ TỪ QUÁN TRỌ NHỚ VỀ CỐ HƯƠNG

Quán trọ ví cho cõi Ta bà đau khổ, ngắn ngủi, không bền chắc. Cố hương ví cho cõi Cực lạc thuần vui, bền lâu, chắc thật.

Nói về sự: Chúng ta phải thật sự rời bỏ Ta bà để luôn nhớ nghĩ về cõi Cực lạc của Phật A Di Đà.

Nói về lý: Chúng ta phải rũ bỏ tất cả những phiền muộn, lo âu, trăn trở, giả tạm trong tâm thức, để thảnh thơi trở về với chân như Phật tánh hằng thanh tịnh của chúng ta.

Chúng ta thường nghĩ: Cuộc đời này luôn đầy hoa bướm. Chúng ta say sưa đắm chìm trong tình yêu, danh vọng, tiền bạc, cứ ngỡ cuộc đời là những bài thơ, tiếp nối với những ngày vui bất tận, hoa sẽ không tàn, trăng sẽ không khuyết, cuộc vui dài kéo đến thiên thu. Nhưng có ngờ đâu, thân người như bóng chớp chiều hôm, mới trẻ rồi già, mới sống rồi chết, trong cuộc vui hội ngộ đã ươm mầm chia ly. Đời người thật vô thường, huyễn mộng như hoa sớm nở tối tàn, vui ít khổ nhiều, sống chết nối liền không ai tránh khỏi. Ai cũng biết đời ít người trăm tuổi, tuổi xuân thấy đó rồi chợt mất, buồn vô cùng và khổ cũng vô cùng.

Vì sao vậy? Vì quán trọ chỉ cho sự tạm bợ, ngắn ngủi, ví như những quán trọ ở ven đường, chỉ dùng cho khách bộ hành dừng chân nghỉ mát, sau đó từ giã ra đi, chứ không ở mãi được. Cũng vậy, Ta bà chẳng khác nào quán trọ, nhân loại sống trong cõi này đều giả tạm, vô thường, không thật. Tại sao không thật? Vì suốt cả cuộc đời bị sinh, lão, bệnh, tử, tiền tài, danh vọng chi phối, bức bách thật là khổ não. Tất cả đời sống vật chất cho dù làm vua, làm quan, giàu sang đến cỡ nào đi nữa nhưng khi ra đi không mang được gì cả, cho nên mới gọi là không thật. Chúng ta là người hiểu đạo, phải sớm Giác ngộ ngay chỗ này, sống có đạo đức để làm lợi ích cho mọi người. Có như vậy, mới không uổng phí đời người.

Ta bà thật là đau khổ, tại sao chúng ta không sớm Giác ngộ để một lòng nhớ về cố hương Cực lạc? Cố hương là nơi chúng ta chôn rau cắt rốn, là ngôi nhà vững chắc cho chúng ta ngơi nghỉ sau những ngày tháng vất vả với cuộc đời.

Ngày ấy, Đức Phật Thích Ca, vì hiểu cuộc đời ngắn ngủi, kiếp phù sinh tạm bợ, mong manh nên đã quay mặt với vinh hoa, độc hành vào núi thẳm, rừng sâu tìm chân lý. Bao ngày tháng miệt mài tu tập, cuối cùng Giác ngộ, đem đạo mầu soi tỏ cuộc đời. Giáo lý Ngài dạy rất nhiều, trong đó, vô thường (không thường còn, luôn đổi thay biến dạng) là một trong những giáo lý căn bản.

Phàm mọi pháp vô thường, theo sau là khổ. Ấy vậy, chúng sinh không tỉnh, lấy khổ làm vui, cam lòng nhận chịu, nên gọi là Ta bà, Ta bà là cõi uế trược đầy dẫy khổ đau. Trái lại, cõi Cực lạc là cõi thuần vui, nơi An lạc thanh tịnh cho tất cả chúng sinh. Vì thế, người Việt Nam ta, khi có người thân tạ thế, tất cả đều mong ước nguyện cầu vong hồn sớm tiêu diêu miền Cực lạc. Danh từ Cực lạc đối với danh tộc ta nó thân thiết đậm đà như một ngôi nhà ấm cúng, là nơi yên nghỉ an toàn, là quê hương đầy thắng cảnh cho những khách lãng tử viễn du mòn gót trên vạn nẻo đường đời. Để hết khổ được vui, chúng ta hãy hiểu rõ hai cõi Ta bà và Cực lạc.

Ta bà là gì? Ta bà là phiên âm từ chữ Saha của Phạn ngữ, có nghĩa là ráng chịu đựng, vì chúng sinh ở trong cõi này chịu các phiền não, tham sân si bức bách, làm các điều ác, xoay quanh trong ba nẻo sáu đường, lại cứ cam lòng nhẫn chịu không mong ngày ra khỏi. Ta bà không phải chỉ có một thế giới ta đang ở, mà nó gồm cả ba nghìn đại thiên thế giới, trong phạm vi hóa độ của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Cực lạc là gì? Cực là rất, Lạc là vui. Như vậy, Cực lạc là cõi thuần vui. Trong Kỳ Viên Hội, Đức Phật gọi Ngài Xá Lợi Phất dạy rằng: “Cõi đó vì sao gọi là Cực lạc? Vì chúng sinh trong cõi đó không có các điều khổ, chỉ hưởng thuần những sự vui, nên gọi là Cực lạc.”

Vậy, để giã từ quán trọ (Ta bà) một cách dứt khoát, thiết tha nhớ về cố hương (Cực lạc) thì chúng ta phải so sánh sự hơn kém giữa chánh báo và y báo của hai cõi.

IV. CHÁNH BÁO VÀ Y BÁO

Chúng ta biết: Chánh báo như thế nào thì y báo như thế đó. Y báo là quả, chánh báo là nhân, vi thế các pháp hiện hữu trong vũ trụ bao la vô tận này đều bị luật Nhân quả chi phối.

1. Chánh Báo Cõi Ta bà:

Là một phàm phu đầy dẫy nghiệp chướng, tham, sân, si, cho nên mới chiêu cảm y báo ở cõi Ta bà đầy vô vàn đau khổ. Con người ai cũng có nhiều tham vọng, lòng tham vọng ấy bám víu vào sự vật mà ta nắm được, chúng ta cứ ngỡ nó chắc chắn là của mình, rồi cố công gìn giữ, nhưng thực ra tất cả đều thay đổi. Ai cũng nghĩ thân người sẽ sống lâu bền, nhưng đâu ngờ rằng thân này như bông hoa sớm nở tối tàn. Lời thề sắc son nguyện không bao giờ thay đổi, nhưng họ nào biết tâm hồn thay đổi từng sát na. Chúng ta cứ ngỡ rằng sông biển, núi non sẽ tồn tại mãi muôn đời, nhưng rõ ràng biển thẳm hóa cồn dâu, non mòn bể cạn. Như thế, cuộc đời quả thật không có cái gì tồn tại mãi mãi. Thân vô thường, tâm vô thường, hoàn cảnh vô thường.

a) Như thế nào là thân vô thường:

Thân luôn luôn biển đổi, từ trẻ đến già, từ già đến chết. Có một số người tuổi trẻ, họ nhìn đời luôn luôn tương đẹp. Họ nghĩ: Thân tôi còn tráng niên chưa già, nếu có già chết cũng còn lâu lắm! Họ đâu ngờ rằng rong thân họ, các tế bào đã sống chết từng phút từng giây, khoa học rõ ràng đã chứng minh điều đó. Ai cũng tưởng thân này sẽ tồn tại với thời gian, nhưng chỉ một luồng gió độc, một cái nọc rắn, một hơi thở ra không thở vào là mất mạng. Sống ngày nay đâu chắc được sống đến ngày mai. Nhìn những mộ bia trong nghĩa trang hay trên bàn vong,, ta thấy biết bao người còn trẻ tuổi hơn ta mà đã hóa ra người thiên cổ. Ấy thế mà chúng ta vẫn luôn bám víu nó, ôm giữ nó như ôm một cái bóng, nắm bắt một làn hương. Do đó, cổ đức có câu “Đừng đợi đến tuổi già mới niệm Phật, thiếu nhi mồ trẻ đã qua đời.”

b) Tâm vô thường:

Trong thân con người, tế bào thay đổi trong từng phút từng giây, thì tâm niệm của chúng ta cũng luôn luôn thay đổi. Tâm vốn năng động, vô cùng vi tế, vì thế sự thay đổi của nó nhanh gấp vạn lần đối với thân. Tâm chúng ta thay đổi theo hoàn cảnh, từng tích tắc, mới vui rồi buồn, mới thương rồi ghét, rong ruổi như vượn chuyền cây, từng sát na sinh diệt như một dòng suối, giọt nước trước không phải là giọt nước sau, vì luân chuyển quá nhanh nên ta tưởng là một. Cái ngã ở phút trước không phải cái ngã ở phút này, mà ta cứ mãi mãi chấp thường để tạo ra vô vàn tội ác.

c) Hoàn cảnh vô thường:

Tất cả vạn vật hiện hữu trên vũ trụ này, đều bị chi phối bởi định luật vô thường, theo quy luật “thành, trụ, hoại, không” hoặc “sinh, trụ, dị, diệt.” Biển cả hóa cồn dâu, vật đổi sao dời, núi sông cũng có cái già cái tre, đất cũng có chỗ lở chỗ bồi. Trong cuộc đời có biết bao hoàn cảnh giàu nghèo, vinh nhục. Trong lịch sử có biết bao thời gian thăng trầm, có triều đại nào thạnh mãi không suy, có người nào trong vinh không nhục. Nhưng hoàn cảnh vốn vô thường, ai cũng có thể suy nghiệm để biết được, nhưng vì chúng ta cứ bám víu theo đuổi tự bày ra lắm chuyện nhọc nhằn cho cuộc đời.

Như thế, thân vô thường, tâm vô thường, hoàn cảnh vô thường, không có cái gì thực, không có gì bền chắc, sao ta cứ mê lầm say đắm không tìm kế thoát thân!

d) Đời Là Bể Khổ:

Trong Khế Kinh dạy: “Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển.” Thực tế! Cõi đời là cõi khổ chẳng có chút vui, nếu có chăng chỉ là trạng thái thay đổi, như người khát uống nước mặn, càng uống càng khát, cổ và họng càng thêm đắng chát.

Khổ nguyên Phạn ngữ là Dukkha, có nghĩa là những việc làm bức bách và rối loạn thân tâm, gây cho mọi người những việc không vừa lòng đều gọi là khổ. Căn bản khổ của cõi đời tạm tóm lược trong ba khổ và tám khổ.

+ Ba Khổ là khổ khổ, hoại khổ và hành khổ.

- Khổ khổ: Bản thân đã khổ mà hoàn cảnh chung quanh lại chồng chất thêm bao cái khổ khác, như thân đã mỏng manh mà còn gánh chịu bao hoàn cảnh phũ phàng nên gọi là khổ khổ.

- Hoại khổ: Vạn vật trong vũ trụ đều bị luật thành, trụ, hoại, không chi phối, hễ có sinh thì có diệt, cứng rắn như sắt đá, to lớn như trăng sao, nhỏ nhen yếu ớt như thân người đều bị thời gian hủy diệt tất cả. Ta hoàn toàn bất lực không cách gì chống chọi được nên gọi là hoại khổ.

- Hành khổ: Về phương diện vật chất, ta bị hoàn cảnh thời gian chi phối. Về tinh thần ta vẫn không tự chủ, không phút nào yên ổn, tự do, tâm hồn ta luôn luôn bị dục vọng thúc đẩy, lôi kéo, dao động như vượn chuyền cành, rong ruổi như ngựa không cương. Nhận xét sâu xa hơn, ta sẽ thấy tâm hồn ta còn giận, thương, ghét, ưa thích thứ này thứ nọ, đều là do tiềm thức chi phối sai sử vô cùng mãnh liệt. Tóm lại, thân ta đã khổ lại chồng thêm hoàn cảnh vô thường khổ và tâm ta cũng bị chi phối bởi những ý tưởng dục vọng từ tiềm thức và luôn luôn chịu mệnh lệnh của chúng, không chút tự do yên ổn thân thâm, nên gọi là hành khổ.

+ Tám khổ: Đây là những điều khổ mà ta phải chịu hằng ngày như: Sinh ra phải chịu khổ (sinh), già khổ (lão), bệnh khổ (bệnh), chết khổ (tử), thương yêu mà chia lìa là khổ (ái biệt ly), oán ghét mà luôn gặp gỡ là khổ (oán tắng hội), năm ấm xung đột khổ (ngũ ấm xí thạnh). Các khổ trên cần có chút nhận xét trong xã hội ta có thể thấy rõ, duy có khổ cuối cùng là năm ấm xung đột. Năm ấm cũng gọi là năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là năm thứ chứa nhóm tích tụ thành thân căn tứ đại của con người là đất, nước, gió, lửa và không. Các chất này luôn luôn xung đột, mâu thuẫn, nên dễ bị luật vô thường chi phối, thân thể còn bị lục dục, thất tình làm khổ lụy và bị vọng thức chấp trước điên đảo nên sinh ra rất nhiều khổ não.

+ Luân hồi khổ: tất cả chúng sinh tùy theo sự tạo nghiệp mà hết kiếp này sang kiếp khác, sống chết xoay quanh trong sáu cõi: Trời, người, A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh. Cõi trời tuy vui hơn cõi người nhưng vẫn còn tướng ngũ suy (các mũ hoa khô héo, y phục dơ bẩn, nách chảy mồ hôi, thân thể xú uế, không thích chỗ mình ngồi), nghĩa là vẫn theo nghiệp đầu thai. Cõi A tu la khổ về tranh đua. Cõi Súc sanh khổ vì mang kéo nặng nề, hoặc bị banh da xẻ thịt và ăn nuốt lẫn nhau. Ngạ quỷ bị đói khát ép ngặt, hình phạt đủ điều. Cõi Địa ngục thì cột lửa, dầu sôi, khổ không thể kể xiết. Chúng sinh trong sáu nẻo bị nghiệp thức lôi kéo xuống lên, xoay quanh theo bánh xe luân hồi, không có đầu mối, chịu khổ vô cùng, nên gọi là luân hồi khổ.

Trên đây là nói về y báo và chánh báo của cõi Ta bà.

2. Chánh Báo Của Cõi Cực Lạc:

Phật A Di Đà trang nghiêm thanh tịnh cho nên mới chiêu cảm cảnh giới, sự tướng chung quanh cũng trang nghiêm thanh tịnh theo.

Trong kinh Vô Lượng Thọ dạy: Trong thời Đức Phật Thế Tự Tại Tại Vương, có Tỳ kheo tên là Pháp Tạng phát thệ nguyện lớn quyết tâm trang nghiêm Tịnh độ. Đức Phật Thế Tự Tại Vương đã vì Tỳ kheo Pháp Tạng mà rộng nói phương pháp tu hành để trang nghiêm Tịnh độ và Ngài cũng rộng nói hai trăm mươi ức quốc độ của chư Phật, từ những quốc độ vi diệu đến những quốc độ thô sơ, đồng thời Ngài cũng hiện rõ cho Tỳ kheo Pháp Tạng được thấy. Do đó, Ngài Pháp Tạng phát khởi đại nguyện cao tột trong tâm tịch tịnh, đủ năm kiếp luôn nhớ nghĩ giữ gìn công hạnh trang nghiêm thanh tịnh quốc độ. Sau đó, Tỳ kheo Pháp Tạng phát 48 lời nguyện lớn và trải qua vô số kiếp thực hành, cảnh giới đã được trang nghiêm và Ngài thành Phật đến nay hơn mười kiếp. Trong cõi Cực lạc, tất cả cảnh giới, thân tâm đều chơn thường khác hẳn với cảnh giới thân tâm vô thường ở cõi Ta bà này.

a) Thân chơn thường: Nhân dân cõi Cực lạc, thân bằng kim cương, từ hoa sen báu sinh ra, da màu huỳnh kim. Tất cả đều đủ 32 tướng hảo của bậc đại nhân, đồng xinh đẹp như nhau. Người dân ở nước Cực lạc không có sinh già bệnh chết, thân kim cương không bao giờ hoại, số thọ mạng chỉ tính đếm bằng vô lượng mà thôi.

b) Tâm chơn thường: Người ở thế giới Cực lạc đều là bậc Trí tuệ sáng suốt, biện tài vô ngại lúc nghĩ tưởng thuần là đạo đức, nên lời nói ra đều đúng Chánh pháp. Mỗi người đều yêu kính nhau, không tham, không sân, không si, các căn tịch tịnh không phóng dật, luôn ở trạng thái chơn thường. Mọi người đều đủ thần thông, chứng tỏ tâm họ luôn ở trong đại định.

c) Hoàn cảnh chơn thường: Cõi Cực lạc là kết tinh của công đức trang nghiêm mà Pháp Tạng Tỳ kheo đã gây trồng trong thời gian vô lượng kiếp. Vì thế, cõi Cực lạc là do các chất báu hợp lại mà thành, không bao giờ hư hoại, như bảo địa, bảo thọ, bảo trì, bảo lâu, bảo tòa...

- Bảo địa: Toàn cõi Cực lạc, đất bằng lưu ly trong suốt, dưới có tràng kim cang nâng đỡ. Tám góc tràng, mỗi góc có trăm thứ bảo châu. Mỗi bảo châu phóng nghìn tia sáng, Mỗi tia sáng có 84.000 màu chói đất lưu ly sáng như nghìn ức mặt trời. Mặt đất lưu ly bằng phẳng có dây vàng ròng cùng thất bảo giăng phân khu vực và đường sá. Mỗi dây phóng tia sáng trăm màu kết thành đài ánh sáng, giữa đài có vô số nhạc khí trỗi lên pháp khổ, không, vô thường, vô ngã.

- Bảo thọ: Trên bảo địa có vô số cây chiên đàn hương, vô số cây kiết tường, mỗi cây cao tám nghìn do tuần. Bông trái đều là chất thất bảo. Có cây thuần chất báu, có cây xen lẫn các chất báu. Tất cả Phật sự đều hiện rõ bóng trong cây và cả mười phương thế giới đều hiện rõ trong cây như hiện trong gương sáng.

- Bảo trì: Cực lạc thế giới nơi nơi đều có ao tắm. Thành ao bằng thất bảo, đáy trải cát kim cương nhiều màu. Ao rộng trăm nghìn do tuần xem như biển cả. Mỗi ao có 60 ức hoa sen thất bảo. Mỗi bông tròn lớn 12 do tuần đủ các màu đẹp, màu nào chiếu ánh sáng nấy, nước ao là nước tám công đức (lóng sạch, trong mát, ngon ngọt, nhẹ mềm, nhuận trơn, hòa nhã vui vẻ, trừ đói khát bệnh hoạn, thân thể khỏe mạnh). Nước chảy tạo thành tiếng pháp, diễn nói về khổ, không, vô thường, vô ngã.

- Bảo lâu: Bốn phía ao báu vô số cung điện nhiều tầng đều do bảy chất báu xây dựng. Tất cả giảng đường, tinh xá, lầu các của Phật A Di Đà, chúng Bồ tát và nhân dân đều quý hơn trăm nghìn lần cung điện của Tự Tại Thiên vương ở cõi Ta bà. Bốn phía đền đài đều trang nghiêm với nhiều tràng hoa và vô lượng nhạc khí đều hòa reo tiếng pháp.

- Bảo tọa: Thế giới Cực lạc, Đức Phật A Di Đà, chư Bồ tát cùng nhân dân đều ngồi trên tòa sen báu. Tòa sen ấy do vô lượng chất báu hợp thành, màu sắc đẹp lạ, quang minh chói sáng. Tòa sen có 84 nghìn cánh, mỗi cánh có 84 nghìn lằn gân, phóng ra 84 nghìn tia sáng. Xen vào mỗi cánh sen có năm trăm ức hạt châu Ma ni, mỗi hạt châu phóng nghìn tia sáng. Đài sen bằng chất Thích Ca Lăng Già Bảo, trang nghiêm với tám muôn thứ ngọc kim cương, hiện thành Phật sự ở các nơi trong cõi Cực lạc. Hoàn cảnh ở nước Cực lạc hoàn toàn xây dựng bằng những chất báu chơn thường.

d) Cõi Cực lạc thuần vui:

Thuần vui là một thứ vui An lạc tự nhiên, không phải vui vì một trạng thái thay đổi hay một sự chấp nhận bằng lòng. Nhân dân cõi Cực lạc không có tất cả sự khổ, chỉ thuần hưởng sự vui thanh tịnh, vì cõi Cực lạc không có ba khổ, tám khổ, luân hồi khổ.

- Không có ba khổ: Chúng sinh cõi Ta bà bản thân đã mong manh, chứa đầy sự khổ lại cộng thêm hoàn cảnh khổ. Trái lại, nhân dân cõi Cực lạc nhiều thắng duyên, cuộc sống hoàn toàn thường lạc. Chúng sinh cõi Ta bà đều chịu chi phối bởi định luật thành, trụ, hoại, không; chúng sinh hoàn toàn bất lực trước định luật vô thường của vũ trụ. Trái lại, cõi Cực lạc do công đức của Phật A Di Đà tạo nên, các bảo thọ, bảo trì, bảo lâu, bảo tòa đều do các chất báu hợp lại mà thành, không bao giờ hư hoại, hoàn cảnh vũ trụ luôn luôn chơn thường.

- Không có tám khổ: Chúng sinh cõi Ta bà phải chịu tám khổ: Sinh, già, bệnh, chết, yêu chia lìa, cầu không được, gặp kẻ thù nghịch, thân tâm đòi hỏi phóng túng, trái lại, nơi thế giới Cực lạc, người từ hoa sen sinh ra nên không có khổ về sinh. Thân bền chắc như kim cương, luôn luôn khương kiện, trẻ đẹp nên không có khổ vì già. Thọ mạng vô lượng, vô biên A tăng kỳ kiếp mãi đến bổ xứ thành Phật nên không khổ vì chết. Không cha mẹ vợ con nên không khổ vì thương yêu bị chia lìa. Các thượng thiện nhân đều ở chung nên không có khổ phải gặp kẻ thù. Ăn mặc tự nhiên, muốn gì được nấy nên không có khổ vì cầu không được. Không có thân kiến và tâm luôn luôn thanh tịnh ở trong chánh định tu tập nên không có khổ vì thân tâm đòi hỏi phóng túng.

- Không có khổ luân hồi: Người cõi Ta bà luôn tạo ác nghiệp nên mãi lẩn quẩn trong ba nẻo sáu đường, không có ngày ra khỏi. Trái lại, nhân dân trong cõi Cực lạc, sinh từ hoa sen, thân kim cang bất hoại, thoát hẳn sinh tử, chứng vị Bất thối, lần lên Phật quả.

Tóm lại, thế giới Cực lạc là nơi thanh tịnh trang nghiêm chỉ thuần có vui mà không khổ.

e) So sánh điểm hơn kém giữa hai cõi:

Cõi Ta bà có mười điều chướng nạn:

- Trong đời không có Phật, Ngài thị tịch đã lâu.

- Thiện tri thức rất khó gặp.

- Chánh pháp khó gặp.

- Ngoại đạo thường khuấy phá.

- Thân người mong manh như hoa sớm nở tối tàn.

- Ác đạo vây quanh.

- Đường luân hồi hiểm trở.

- Nghiệp thân thọ dụng buộc ràng.

- Hoàn cảnh chi phối khó vào chánh định.

- Khó chứng đạo vô thượng Bồ đề.

Cõi Cực lạc có mười điều thù thắng:

- Phật A Di Đà hiện đương nói pháp.

- Bạn là những Bồ tát Bất thối.

- Cảnh vật diễn pháp mầu.

- Chư Phật thường hộ niệm.

- Tuổi thọ vô lượng.

- Không có ác đạo.

- Thoát ly hẳn luân hồi.

- Thọ dụng tự nhiên.

- Được vào chánh định tụ.

- Một thời thành Phật.

Qua sự so sánh y báo và chánh báo giữa hai cõi, tất nhiên ai cũng chọn cõi Cực lạc. Chúng ta đã trót sinh ra trong cõi đời này ai lại không biết có thân là khổ. Dù có vui đi nữa cũng chỉ là cái vui tạm thời trong chốc lát, mà cái khổ cứ đeo đuổi theo luôn, như hai bánh xe lăn theo chân con bò. Đó là sự thực, là nỗi khổ đau mà không ai tránh khỏi. Đã biết được khổ, dĩ nhiên chúng ta cần tìm chỗ vui cho An lạc tâm hồn. Cảnh vui không đâu yên ổn bằng cõi Cực lạc. Trong thời kỳ tu nhân, Đức Phật A Di Đà vì lòng Từ bi quá thiết đối với chúng sinh trong cõi khổ ở khắp mười phương. Ngài muốn tất cả chúng sinh vĩnh viễn trong sự an vui hoàn toàn và đảm bảo chắc chắn trên đường đi đến Phật quả, nên Ngài nhất tạo ra một thế giới vô cùng trang nghiêm, thanh tịnh, thuần vui không khổ, để làm gia hương cho tất cả chúng sinh trong mười phương.

Qua bài học nêu trên, nếu chúng ta cảm thấy cõi đời này là vô thường huyễn mộng, toàn khổ, không vui, muốn có cuộc sống thực sự An lạc, thoát ngoài vòng sinh tử luân hồi, chỉ có cách duy nhất là phải sinh về cõi Cực lạc của Đức Phật A Di Đà.


 

Thêm bình luận

Trang nhà có cài bộ gõ tiếng Việt, tự động nhận ra các kiểu gõ, xin các bạn bình luận tiếng Việt có dấu.


Mã an toàn
Refresh (Nhấn vào đây để lấy mã an toàn khác)