Home Nghiên Cứu Phật Học Phật Giáo và Dân Tộc Phật Giáo Việt Nam ... - III. Phật Giáo Với Nhiệm Vụ Gìn Giữ
05 | 09 | 2010
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật giáo và đời sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Phật Giáo Việt Nam ... - III. Phật Giáo Với Nhiệm Vụ Gìn Giữ PDF. In Email
Nghiên Cứu Phật Học - Phật Giáo và Dân Tộc
Viết bởi Trần Chung Ngọc   
Chỉ mục bài viết
Phật Giáo Việt Nam ...
I. Sơ Lược Lịch Sử Gia Tô La Mã Giáo
II. Nội dung Thánh Kinh
III. Phật Giáo Với Nhiệm Vụ Gìn Giữ
Tất cả các trang

III. PHẬT GIÁO VỚI NHIỆM VỤ GÌN GIỮ VÀ PHÁT HUY NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC

Trong phần mở đầu tôi đã đưa ra quan niệm về nhiệm vụ của Phật giáo trong vấn đề gìn giữ và phát huy nền văn hóa dân tộc. Trong nhiệm vụ này, việc ngăn chặn sự xâm lược văn hóa của các ý thức hệ không tương hợp với nền văn hóa dân tộc phải được đặt lên hàng đầu, vì đây cũng là một hình thức bảo tồn nền văn hóa dân tộc. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta bài ngoại một cách mù quáng và bảo thủ một cách mù quáng, cho rằng cái gì của chúng ta cũng tốt và cái gì của người khác cũng dở. Vấn đề là chúng ta phải phân tích, nghiên cứu cẩn thận xem chúng ta có thể tiếp nhận những gì hay của người và bỏ những gì dở của ta. Chỉ có như vậy cái nền văn hóa dân tộc của chúng ta mới bền vững và hợp với thời đại mới.

Qua sự trình bày về lịch sử GiaTô Giáo và nội dung Thánh Kinh sơ lược ở trên, một người có một trình độ trí thức tối thiểu cũng nhận ra ngay là quyển Thánh Kinh không thể nào dùng làm cẩm nang để phục hưng con người và đạo lý ở Việt Nam vì nội dung của nó hoàn toàn không phù hợp với con người và đạo lý ở Việt Nam. Một câu hỏi được đặt ra: “Thế trong Thánh kinh không có đạo lý hay sao?” Câu trả lời là “Hơn 90% cuốn Thánh Kinh là những chuyện thuộc vùng đất Do Thái, thuộc lịch sử Do Thái và là những chuyện chém giết, vô luân, độc ác v. v… cùng những tín lý chứ không phải là đạo lý”. Phần còn lại, như Bài giảng trên núi, cũng không có gì đặc biệt, không có gì mới lạ, không có gì theo kịp, khoan nói đến chuyện vượt qua, được những tư tưởng giáo lý của Phật Giáo, Khổng Giáo và Lão Giáo. Tôi thách đố bất cứ ai có thể đưa ra bất cứ đạo lý nào, tôi xin nhấn mạnh: đạo lý chứ không phải là tín lý, trong Thánh Kinh mà ta không thể tìm thấy trong Nho, Thích, Lão, và có thể minh xác cho đọc giả thấy cái đạo lý trong Thánh Kinh là cái đạo lý như thế nào, có nhất quán hay không, hay là mâu thuẫn với các đạo lý khác cùng ở trong cuốn Thánh Kinh?

Những tín đồ GiaTô giáo thường không đọc Thánh kinh và thường là những người các Cha “bảo sao nghe vậy” cho nên họ vẫn nghĩ rằng GiaTô giáo là cái đạo cao quý nhất trên hoàn cầu. Họ bị một cái guồng máy nhồi sọ tinh vi nhất trên hoàn cầu đưa vào đầu óc họ những thông tin sai lầm thí dụ như: nền văn minh tiến bộ ở Âu Mỹ là nền văn minh KiTô giáo, và rằng giáo hội GiaTô đứng đầu trong việc tôn trọng nhân quyền, bảo vệ tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, là bạn của dân nghèo, là quán quân trong các việc thiện, là tiền phong trong vấn đề giáo dục mở mang đầu óc con người. Qua cái lịch sử sơ lược kể trên không có cách nào chúng ta có thể chấp nhận những điều “tự nhận” ở trên là đúng sự thực. Sau đây tôi xin đi vào chi tiết từng điểm một.

1. Giáo hội và nền văn minh Âu Mỹ

Giáo hoàng và giáo hội luôn luôn nhập nhằng lấy cái nền văn minh Âu Mỹ làm nền văn minh KiTô. Giáo hoàng John Paul II phát biểu là “Một nền văn minh xứng đáng được gọi là văn minh phải là nền văn minh KiTô”. Hồng Y Spellman khi sang Việt Nam ủy lạo binh sĩ Mỹ cũng khẳng định họ “đang chiến đấu để bảo vệ nền văn minh KiTô Tây phương”. Chúng ta đã thấy những chính sách đốt sách vở của GiaTô giáo, chính sách tiêu diệt các nền văn hóa địa phương, chính sách đàn áp các khoa học gia vì những khám phá của họ ngược với Thánh Kinh như thiêu sống Giordano Bruno và biệt giam Galileo Galilei cho đến chết v. v… Vậy nền văn minh KiTô là nền văn minh nào, có phải là nền văn minh hiện thời không? Có bao nhiêu khoa học gia, tư tưởng gia, triết gia tuyệt đối tin và KiTô giáo đã đóng góp cho nền văn minh hiện đại? Hay là nền văn minh diện đại bắt nguồn từ Galilei rồi phát triển qua những khoa học gia, tư tưởng gia mà Giáo hội đã không còn quyền hành để thiêu sống hay bắt giam nữa.

Gần đây, ở các nước còn nghèo khổ, KiTô giáo nói chung (GiaTô và Tin Lành) đã khuyến dụ dân chúng theo đạo với luận cứ xuyên tạc sự thật: “Hãy nhìn vào các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, kinh tế mở mang, dân chúng sống sung sướng. Đó là những nước theo KiTô giáo và KiTô giáo là nguyên nhân chính của sự giàu sang và tự do dân chủ”.

Đây là một luận điệu nằm trong sách lược lừa dối những ngươờ kém hiểu biết. Sự thực là hiện nay hơn 70% dân GiaTô là thuộc các nước ở Nam Mỹ, Phi Châu, Phi Luật Tân. Dưới sự chỉ đạo tinh thần và vật chất của GiaTô giáo, có nước nào giàu mạnh đâu. Phi Luật Tân là nước hầu như toàn tòng GiaTô giáo từ nhiều thế kỷ, nay Phi Luật Tân giàu sang như thế nào mà phải xuất cảng hơn 400 ngàn người đi làm đầy tớ ở nước ngoài, tình trạng giáo dục, kinh tế có hơn gì Việt Nam ngày nay không? Nhật Bản, Singapore, Đài Loan mở mang tiến bộ như vậy nhưng đâu có phải là các nước theo KiTô giáo. Tại sao ở các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ tình trạng bỏ đạo càng ngày càng gia tăng. Thống kê mới nhất (ngày 20 tháng 7 năm 1996) của Vatican cho biết số người vào trường dòng học làm Linh Mục gia tăng trong các nước nghèo khổ (một nghề ăn trên ngồi chốc tương đối dễ sống) và kỹ nghệ kém mở mang trong khi giảm nhiều ở Âu Mỹ. (The statistics on seminary enrollment support a longtime trend: the demographic center of the faith is shifting to poorer and less industrialized nations). Sự suy giảm ở Mỹ (nước giàu nhất, văn minh nhất, tự do nhất) rất trầm trọng: số tu sinh giảm từ 14,365 xuống còn có 5,692 (giảm hơn 60%) (The drop in North American was even greater: from 14,365 to 5,692).

Một công cuộc nghiên cứu khác của Linh Mục dòng Dominic, David Rice, cho biết: Trong 20 năm qua có 100,000 linh mục rời bỏ giáo hội GiaTô La Mã - cứ 2 giờ đồng hồ lại có một linh mục bỏ giáo hội ra đi (100,000 Roman Catholic priests have walked out in the last twenty years – more that one in every two hours). Một công cuộc nghiên cứu trong 6 năm của hai nhà xã hội học, giáo sư Richard Schoenherr và Lawrence Young, đại học Wisconsin – Madison đưa ra kết luận: “Cho tới năm 2005, số linh mục ở Mỹ sẽ giảm 40%, từ 35,000 xuống còn 21,000. Vậy chúng ta không lấy làm lạ khi giáo hội đã tập trung sự tuyển mộ linh mục và giáo dân ở trong các nước nghèo vì ở các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ, dân trí đã mở mang, không còn tin vào những lời giả dối đánh lạc dư luận nữa. Và, cũng thật là dễ hiểu khi chúng ta thấy trong những nước nghèo khổ, người dân sống trong thiếu thốn rất dễ bị lường gạt bởi những bả vật chất nhỏ nhoi và những hứa hẹn tinh thần huyền hoặc.

Để có một nhận định chính xác hơn về mối tương quan giữa nền văn minh Âu Mỹ và KiTô giáo, chúng ta hãy đọc đoạn sau đây của John E Remsburg trong cuốn “Những nhận vơ lếu láo” (False Claims, The Truth Seeker Company, New York, trg. 16-17): “KiTô giáo có liên quan gì tới nền văn minh của dân tộc này? chắc chắn là không và nếu không có đám mây thiên kiến trước mắt họ, những tín đồ KiTô sẽ thấy rõ rằng KiTô giáo không tạo nên nền văn minh của chúng ta. Họ sẽ thấy rằng thay vì giáo hội văn minh hóa thế giới, chính cái thế giới duy lý trong nhiều thế kỷ đã từ từ văn minh hóa giáo hội. Chính ngay cái bản chất của KiTô giáo đã loại bỏ cái khả năng tiến bộ như là một nguyên lý tự hữu của tôn giáo này; và bất cứ có sự tiến bộ nào, ở trong hay ở ngoài giáo hội, đều do những nguyên nhân mà giáo hội không kiểm soát được. Giáo hội tự cho là nắm giữ chân lý, chân lý toàn diện, chỉ là chân lý. Mọi đề nghị thay đổi, mọi khám phá mới, đối với giáo hội là sai sự thực, và, do đó, giáo hội chống đối. Giả thử giáo hội thành một đế quốc trên toàn thế giới, mọi tiến bộ sẽ phải ngưng ngay lập tức. Những triết gia Huxley và Haeckels của chúng ta sẽ bị diệt trừ thẳng cánh, ngọn đuốc Lý Trí sẽ bị tắt ngấm, và cái lòng tin mù quáng sẽ là sự chỉ đạo duy nhất của chúng ta. Giáo hội đã cho ta những chứng cớ quyết định về sự thực này. Trong nhiều thế kỷ, quyền lực của giáo hội ở Âu Châu là cao nhất, nhưng ngay cả những văn sĩ KiTô cũng phải gọi những thế kỷ đó là thời đại đen tối.

Chỉ khi chủ thuyết duy lý khai sinh, khi khoa học bắt đầu phát triển, và KiTô giáo bắt đầu suy thoái, nền văn minh hiện đại mới ló dạng. Lecky nói rằng: “Trong hơn 3 thế kỷ, sự suy thoái của những ảnh hưởng thần học là một trong những dấu hiệu không thể chối cải để đo sự tiến bộ của chúng ta”. Carlyle nói rằng: “Kiến thức càng tăng, lòng tin càng giảm”. Strauss nói rằng: “Thời Trung Cổ tín ngưỡng tôn giáo thì tỷ lệ thuận với sự ngu tối và man rợ. Tôn giáo và văn minh không ở cùng vị thế mà trái ngược đối với nhau, cho nên với sự văn minh tiến bộ, tôn giáo phải lui”.

(Now did Christianity have ought to do with the civilization of this people? Certainly not; and were it not for the cloud of prejudice before his eyes, the Christians would clearly see that it did not produce our civilization. He would see that instead of the church having civilized the world, the Rationalistic world has for centuries been slowly civilizing the church.

The very nature of Christianity – I mean orthodox Christianity – precludes the possibility of progression as an inherent principle of itself; and whatever progress has been made, either in the church or outside of it, must be attributed to causes over which she has had no control. The church claims to have the truth. Every proposed change, every new discovery, is to her a perversion of truth, and hence, she opposes it. Were the church to sweep to universal empire, all progress would at one cease. Our Huxleys and Haeckels would be summarily disposed of, the torch of Reason would be extinguished, and the ignis-fatuus of Faith would bcome our only guide. Of the truth of this she has herself given conclusive evidence. For centuries her power in Europe was supreme, and even Christian writers denommate these centuries the Dark Ages.

Not until Rationalism was born, not until science commenced her carreer, and Christianity began to decay, did our modern civilization dawn. “For more than three centuries”, says Lecky “the decadence of theological influence has been one of the most invariable signs and measures of our progress”. Says Carlyle “Just in the ratio that knowledge increases, faith diminishes”. “The Middle Ages were more religious than ours”, says Strauss, “in proportion to their ignorance and barbarism. Religion and civilization accordingly occupy, not an equal, but an inverted position regarding each other, so that with the progress of civilization, religion retreats”).

Để rọi thêm một tia sáng vào cái gọi là văn minh KiTô, chúng ta hãy đọc tiếp đoạn sau đây của Lloyd M. Graham (Sđd, trg. 448-449) về trí tuệ của các Thánh KiTô trong việc mở mang đầu óc và văn minh hóa con người để Âu Mỹ có được nền văn minh ngày nay:

“Bất cứ người nào bị thống trị bởi tư tưởng tôn giáo đều bị đặt dưới ảnh hưởng của cái năng lực lý luận sai lầm. Đó chính là những nhà lập giáo KiTô lầm lẫn. Ngày nay chúng ta vinh danh những kẻ không xứng đáng về lòng dũng cảm của họ mà không ý thức được cái tội ác mà họ đã phạm phải - sự phá hủy hoàn toàn khoa học và triết lý cổ xưa. Điều này đưa đến 1500 năm đen tối, trong thời gian này dân KiTô không biết ngay cả quả đất tròn. Trong thời đại đen tối, sự tối tăm có tính cách toàn diện - một ảnh hưởng khó hiểu của cái gọi là “ánh sáng của thế giới” (GiaTô giáo vẫn tự cho là ánh sáng của thế giới: TCN).

Bây giờ chúng ta hãy so sánh những khoa học gia Hi Lạp (Tác giả muốn nói đến Pythagoras (thuyết trái đất tròn và quay xung quanh mặt trời, thế kỷ 6 trước sự Hoang Mang (B. C. = Before the Confusion), Aristarchus (thuyết mặt trời là trung tâm vũ trụ, thế kỷ 3 B. C. , mà 19 thế kỷ sau Copernicus khám phá ra), Eratosthenes (đo chu vi trái đất, thế kỷ 3 B. C. ), Hipparchus (kinh tuyến và vĩ tuyến, thế kỷ 2 B. C. ), Democritus và Leucippus (thuyết nguyên tử của vật chất, thế kỷ 5 sau Ảo Tưởng (A. D. = After Delusion) với các Thánh KiTô. Đối với vài khoa học gia còn sống sót, người ta nói như sau: “cái tên điên này muốn đảo ngược cả hệ thống thiên văn, nhưng Thánh kinh thiêng liêng dạy chúng ta rằng Joshua ra lệnh cho mặt trời dừng đứng yên lại chứ không phải là trái đất” – và 1300 năm sau một giáo hoàng cũng ra sắc lệnh với cùng ý như vậy. Một luận cứ nổi tiếng khác là “trong ngày phát xét những người ở phía bên kia của trái đất không thể thấy được Chúa từ trên không xuống”. Về sự chuyển động của trái đất, Thánh Augustine (cha đẻ của nền thần học GiaTô và được GiaTô giáo tôn sùng coi như là có trí tuệ siêu việt) nói như sau: “Không thể nào có chuyện có người ở phía bên kia của trái đất, vì Thánh kinh không ghi lại bất cứ một giống người nào như vậy trong các hậu duệ của Adam” (Như vậy là Thánh Kinh không biết tới dân Việt Nam và lẽ dĩ nhiên không làm gì có chuyện cứu rỗi dân Việt Nam. TCN); Và linh mục Incholer nói như sau: “Quan niệm về sự chuyển động của trái đất là quan niệm tồi tệ nhất, nguy hại nhất, xúc phạm nhất trong những quan niệm dị giáo; sự bất động của trái đất là điều thiêng liêng gấp ba lần” và Laclantius kết luận: “Không thể có chuyện con người tin một cách vô lý đến độ cho rằng mùa màng và cây cỏ ở phía bên kia của trái đất lại mọc chổng đầu xuống và con người lại có chân cao hơn đầu”. Làm sao chúng ta có thể áp dụng những lời trên vào con người đã thốt ra những lời đó. Ngày nay, chúng ta biết họ sai lầm về khoa học, nhưng chúng ta vẫn không biết họ sai lầm về thần học”.

(Anyone domnated by religious thought is under the influence of a reason-perverting power. Such were Christianity’s Confounding Fathers. Today we honor these misbegotten for their courage without realizing the crime they committed – the complete destruction of ancient science and philosophy. This resulted in fifteen hundred years of darkness, in which the Christian people did not even know the earth is round. In the Dark Ages the ‘blackout’ was complete – a curious effect for “ the light of the world”. Now let us compare Greek scientists with Christian saints. Against some scientists still surviving one had this to say: “this fool wishes to reverse the entire system of astronomy; but sacred scripture tells us that Joshua commanded the sun to stand still and not the earth” – and some thirteen hundred years later a pope issued a bull to the same effect. Another famous argument was that “in the day of judgement men on the other side of a globe could not see the lord descending through the air”. Concerning the earth’s motion, St. Augustine had this to say: “It is impossible there should be inhabitants on the opposite side of the earth, since no such race is recorded by Scripture among the descendants of Adam”. And Father Inchofer: “The opinion of the earth’s montion is of all heresies the most abominable, the most pernicious, the most scandalous; the immobility of the earth is thrice sacred”. And Lactantius concluded, “It is impossible that men can be so absurb as to believe that the crops and trees on the other side of the earth hang downward and that men have their feet higher than their heads”. How peculiarly applicable are these words to those who uttered them. We now now these men were wrong scientifically, but we still do not know they were wrong theologically).

Qua những tài liệu dẫn chứng ở trên chúng ta thấy rằng không có một nền văn minh nào xứng đáng với danh từ văn minh mà có thể gọi là nền văn minh KiTô. Sự nhập nhằng với nền văn minh Tây phương vào làm nền văn minh KiTô là sách lược quen thuộc của GiaTô giáo để khuyên dụ những người kém hiểu biết trong những quốc gia nghèo khổ, những người không hề biết gì về lịch sử cũng như bản chất của GiaTô LaMã giáo.

Một trong những quyền căn bản của con người ở trong các xứ văn minh tiến bộ là quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, tự do tư tưởng v. v…. Sau đây tôi sẽ luận về giáo hội và tự do của con người.

2. Giáo hội và tự do của con người

Lịch sử chứng tỏ rằng, cho đến ngày nay, chưa bao giờ giáo hội GiaTô cổ võ tự do tôn giáo. Theo truyền thống của giáo hội mẹ, các giáo hội con cũng đi vào con đường chuyên chế tôn giáo: Pavelich ở Croatia, Franco ở Tây Ban Nha, Ngô Đình Diệm ở Nam Việt Nam, Marcos ở Phi Luật Tân v. v. tất cả đều chủ trương độc tôn và tìm cách tiêu diệt các tôn giáo khác. Hiện nay, GiaTô giáo và Chính Thống giáo còn đang giết nhau ở Bosnia, GiaTô Giáo và Tin Lành cũng đang giết nhau ở Bắc Ái Nhĩ Lan, Gia Tô và Tin Lành đang tranh nhau ảnh hưởng ở các nước nghèo khổ. Trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi là giữa GiaTô và Tin Lành, tôn giáo nào hơn, Robert G. Ingersoll đã trả lời: “Tin Lành hơn vì ít GiaTô hơn, nhưng sự khác biệt giữa GiaTô và Tin Lành chỉ như sự khác biệt giữa một con cá sấu lớn và một con cá sấu nhỏ” (Protestantism is better than Catholicism because there is less of it. But the difference between Catholicism and Protestantism is as much as between an alligator and a crocodile). Ở nơi nào GiaTô giáo ở thế yếu hoặc thiểu số thì giáo hội đòi cho được tự do tôn giáo, khi nào ở thế mạnh hoặc đa số thì không bao giờ tôn trọng tự do tôn giáo. Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy, vào những thế kỷ 18, 19, trong khi ở Âu Châu GiaTô giáo bắt giữ, tra tấn và thiêu sống hàng trăm ngàn người mà họ kết tội là “dị giáo”, nghĩa là những người không tin và không chấp nhận quyền lực của Giáo hoàng, thì ở Việt Nam họ lại đòi tự do tôn giáo cho những tín đồ GiaTô người Việt phản bội quốc gia và lấy cớ bị đàn áp để thúc đẩy thực dân Pháp xâm chiếm đất nước Việt Nam.

Hiện nay, ngay trong nội bộ, giáo hội GiaTô cũng không tôn trọng nhân quyền và tự do tư tưởng. Giáo hội dành quyền diễn giảng Thánh Kinh và không chấp nhận bất cứ sự bất đồng ý kiến nào, dù lịch sử đã chứng minh giáo hội đã nhiều lần sai lầm trong quá khứ. Các nhà thần học nổi tiếng như Hans Kung, Leonardo Boff, Charles Curran v. v… vì không đồng ý với giáo điều Vatican nên đều bị Vatican đưa ra những biện pháp trừng phạt tinh thần như cấm dạy học, cấm viết sách v. v… Lẽ dĩ nhiên Việt Nam không có nhà Thần học nào nổi danh và “trưởng nữ” của giáo hội mẹ (ngày xưa là Pháp) đã nổi tiếng là ngoan ngoãn dể bảo, và không bao giờ cần đến quyền tự do của con người, cho nên vẫn cho rằng Giáo hội GiaTô là thành trì bảo vệ tự do.

Có lẽ chúng ta cũng nên đọc đoạn sau đây của John Remsburg (Sđd, trg. 24) để có một hiểu biết tổng quát về cái gọi là quan niệm tự do của giáo hội GiaTô: “Giáo hội tự nhận là hội bảo vệ tự do tôn giáo và dân sự. Thực ra là tự do của con người chưa bao giờ có một kẻ thù nào ghê gớm hơn. Nơi nào mà KiTô là thiểu số thì họ đòi cho được tự do tôn giáo, nơi nào đa số thì họ không bao giờ chấp nhận tự do tôn giáo. Mười ngàn lời tán tụng đã tặng cho những nhà lập Thanh Giáo (một tông phái KiTô ) ở New England, như họ tự nhận, là đã thiết lập tự do tôn giáo ở nước này. Nhưng quan niệm về tự do của Thanh giáo là như thế nào? Họ ủng hộ loại tự do nào? Tự do chỉ được là một tín đồ Thanh giáo! chỉ đơn giản như vậy thôi. Rồi nữa, những ông tòa xử dị giáo Tây Ban Nha cũng ủng hộ tự do tôn giáo – cái tự do chỉ được là một tín đồ Gia Tô ngoan đạo. Sự thật là nếu anh thấy bất cứ ở đâu một tông phái của giáo hội KiTô, tôi không cần biết nó mang cái tên gì – GiaTô hay Tin Lành, Luther hay Tân giáo, Trưởng lão hay Giám Lý – anh sẽ thấy đó là một kẻ thù của tự do. Trái đất của chúng ta đã bị bao phủ bởi tro bụi của nhiều triệu người bị giết, giết bởi giáo hội, chỉ vì họ dám có những ý quan điểm không được chính thống. “Nhưng bây giờ giáo hội không còn giết nữa” hình như tôi nghe nhà bảo vệ tín lý Kitô nói. Không, một con hổ yếu sắp chết càng ngày càng bớt dữ đi. Bây giờ Giáo hội không giết được nữa vì không còn quyền lực để mà giết. Bó củi và thanh gươm đã bị tước khỏi những bàn tay đẫm máu của giáo hội, và bây giờ Giáo hội chỉ còn dùng được hai vũ khí, thù hận và vu khống”.

(The Church claims to be the guardian of civil and religious liberty. Yet human liberty has never had a deadlier foe. If a Christian minority has pleaded for religious liberty, a Christian majority never failed to deny it. Ten thousand eulogies have been bestowed upon the Puritan Fathers of New England, for having, as it is claimed, established religious liberty in this country. But what was the Puritan conception of religious liberty? What liberty did they advocate? The liberty to be a Puritan! Simply this and nothing more. So, too did the Spanish Inquisitors advocate religious liberty – the liberty to be a good Catholic. The fact is that wherever you find a fragment of the Christian Church, I care not what name it bears – Catholic, or Protestant, Lutheran or Episcopal, Presbyterian or Methodist – you find an enemy to liberty. Our earth is covered with the dust of murdered millions, murdered by the church, and for no other crime than having dared to entertain opinions that were not orthodox. “But the church does not kill now”, methinks I hear the Christian apologist exclaim. No; a tiger weakened by the pangs of death grows less and less ferocious. The church does not kill now because it dows not have the power to kill. The fabor and the sword have been wrested from her bloody hands, and hatred and slander are the only weapons left her now).

3. Giáo hội và công tác từ thiện

Một trong những điểm mà giáo hội GiaTô quảng cáo nhiều nhất và ồn ào nhất là những công tác từ thiện của Giáo hội. Bất cứ có một cơ hội nào là Giáo hội và các con chiên ngoan đạo Việt Nam lại mang Mẹ Teresa ra làm bình phong, lạc dẫn dư luận, làm như tất cả những tín đồ GiaTô đều như Mẹ Teresa cả. Nghiên cứu tường tận về các công việc từ thiện này chúng ta ít thấy ở đâu là thuần túy từ thiện, mà mục đích chính của các công việc từ thiện là dùng vật chất để truyền đạo, và chúng ta phải công nhận đây là nguyên nhân chính về sự thành công của GiaTô giáo trong những thế kỷ qua. Mở đầu là Đại Đế Constantine, người đã dùng mọi cách và đã bỏ của cải ra mua toàn thể các tỉnh, các thị trấn để cho dân chúng đi theo đạo mới (Malachi Martin: “The Rise and Fall of the Roman Church”, Bantam Books, New York, 1983, trg. 36 “True Constantine had used ever one of these means to propagate Christianity. He even bought up whole towns and cities to ensure they accepted the new belief”. Và từ đó cho đến này nay, của cải vật chất với nhãn hiệu từ thiện đã là vũ khí hữu hiệu nhất của GiaTô giáo để thu nhặt tín đồ.

Kinh nghiệm Việt Nam cho thấy dưới thời Ngô Đình Diệm, các Cha cố Việt Nam được toàn quyền sử dụng viện trợ từ thiện của Mỹ và dùng nó như một vũ khí để ép người vào đạo, khoan kể đến chuyện bắn pháo binh vào những làng không theo đạo để ép buộc dân trong làng theo đạo để đổi lấy sự an toàn của làng xóm. Người Việt Nam đâu đã có ai quên cái câu bất hủ được truyền tụng trong dân gian: “Theo đạo có gạo mà ăn”. Cảnh này cũng lại tiếp diễn trong các trại tị nạn mà các Cha được sự viện trợ của các cơ quan từ thiện KiTô giáo, họ giữ chặt cho giáo dân và chỉ cho người ngoài khi bằng lòng theo đạo. Tôi không nói là các việc từ thiện của GiaTô giáo không có ích lợi gì, chúng góp phần rất nhiều để làm vơi bớt sự khó khăn mà con người gặp phải. Nhưng cái động cơ đằng sau những công việc từ thiện này và phương cách sử dụng thì chẳng thiện chút nào.

Trở lại trường hợp của Mẹ Teresa. Không ai có thể phủ nhận cái lòng từ bi của Mẹ Teresa dù trong vài bài báo người ta đã đặt ra nhiều nghi vấn về cái động cơ chính thúc đẩy Mẹ làm việc thiện. Tờ Newsweek, số ngày 13 tháng 11, 1995, David Gates có điểm cuốn sách “The Missionary Mission” của Christopher Hitchens viết về Mẹ Teresa. Theo Hitchens thì “Mẹ Teresa là một kẻ “mị dân” chống phá thai và là kẻ “phục vụ cho những quyền lực thế gian”, thân thiện với hạng người không tin cậy được như tên lừa đảo Charles Keating ở Ngân Hàng Tiết Kiệm và Tín Dụng, mà nhân danh hắn Mẹ đã viết cho ông Toà Lance Ito trong vụ xử hắn năm 1992. Trong một bức thư trả lời với đây đủ lý lẽ, ông Phó Biện Lý của Tòa giải thích cho Mẹ Teresa biết bằng cách nào mà Keating đã ăn cắp món tiền đã biếu cho Mẹ, và đề nghị Mẹ hoàn trả lại số tiền đó cho các “sở hữu chủ với đầy đủ pháp lý; Mẹ đã không hề hồi âm (Tiền mang cho Thánh có đòi được không? TCN)

Hitchens cũng ghi chú rằng Mẹ đã vào “điều trị ở một vài bệnh viện tốt nhất và đắt tiền nhất ở Tây phương”. Hitchens lý luận rằng “Mẹ làm công việc từ thiện không phải vì chính sự từ thiện mà chỉ để mong một ngày nào đó được kể như một vị Thánh thành lập một dòng tu mới trong giáo hội” (Hitchens’ Mother Teresa is an anti-abortion “demagogue” and a”servant of earthly powers” cozying up to such a slime as S & L (Savings & Loans) swingler Charles Keating, on whose behalf she wrote to Judge Lance Ito during his 1992 trial. In a well-reasoned reply, a deputy D. A. explained to her now Keating stole the money he’d donated and suggested she return it to “its reightful owners”; she never answered. Hitchens notes, she herself has “checked into some of the finest and costliest clinics and hospitals in the West”. She does charitable work, he argues, “not for its own sake but… so that she may one day be counted as the beatific founder of a new order and discipline within the Church itself “)

Tôi chợt nghĩ tới Sư Cô Minh Tú trong bài “Trên Núi Có Một Ngôi Chùa nhỏ”, một bậc tu hành sống trong những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất bên cạnh những người xấu số, thiếu thốn đủ mọi thứ nhưng vẫn làm việc trong âm thầm năm này qua năm khác, và chắc chắn là chưa bao giờ được vào điều trị ở một bệnh viện tối tân nhất ở Việt Nam, khoan nói đến chuyện bệnh viện tốt nhất và đắt tiền nhất ở Tây phương mà phí tổn một ngày có thể đủ nuôi vài chục người xấu số trong một tháng.

Viết sự kiện này ra tôi không có ý lấy trường hợp cá nhân để tổng quát hóa vấn đề như GiaTô giáo đã toan tính làm trong trường hợp Mẹ Teresa. Một cá nhân không tiêu biểu cho bất cứ một tôn giáo nào, muốn xét đến một tôn giáo chúng ta phải xét đến toàn bộ tôn giáo đó. Bởi vì nếu người ta toan tính đưa Mẹ Teresa ra làm cái bình phong Thánh Thiện của GiaTô giáo thì vụ 400 Linh Mục GiaTô ở Bắc Mỹ can tội cưỡng bách tình dục trẻ con và nữ tín đồ và giáo hội đã phải bỏ ra 400 triệu đôla để giải quyết ngoài tòa những vụ trên cho ếm nhẹm (400 triệu đô la làm được nhiều việc thiện lắm) sẽ tiêu biểu cái gì của GiaTô giáo? (Jason Berry: “Lead Us Not Into Temptation: Catholic Priests and the Sexual Abuse of Children”, Double day, New York, 1992, Front cover: “In fact, between 1984 and 1992, 400 Catholic priests in North America have been reported for molesting children. To date, Berry estimates, $400 millions has been paid to resolve these cases. One source projects that $1 billion may be paid by century’s end).

Sự dùng vật chất để ép những người ngoại đạo đang ở trong những hoàn cảnh khó khăn về vật chất theo đạo lộ liễu đến mức một Ủy Ban Điều Tra Những Hoạt Động của các Giáo Sĩ Thừa Sai tại Ấn Độ đã phải đưa ra những khuyến cáo sau đây, trong cuốn “Tín Ngưỡng của người khác” (“The Faith of Other Men”, A Mentor Book, New York, 1965, trg. 107) của Giáo sư Wilfred Cantwell Smith, một nhà Thần học KiTô nổi tiếng, Giáo sư môn Tôn Giáo Thế Giới và Giám đốc trung tâm nghiên cứu tôn giáo thế giới, đại học Harvard:

“Nên yêu cầu những thừa sai mà mục đích chính là dụ người vào đạo phải rút lui. Số lượng lớn các nhà truyền giáo ngoại quốc không được hoan nghênh và cần phải kiểm soát. Sự dùng các dịch vụ y tế hay chuyên môn như là phương tiện trực tiếp để dụ người vào đạo phải cấm bởi luật pháp. Mọi toan tính dùng vũ lực hay lừa gạt gian dối, hay đe dọa bằng những cách bất chính hay cấp đỡ tài chính hay mọi sự trợ giúp khác, hoặc bởi những phương tiện hay hứa hẹn lừa gạt gian dối, hoặc bằng sự giúp đỡ tinh thần và vật chất, hoặc lợi dụng sự thiếu kinh nghiệm hay lòng tự tin của bất cứ người nào, hoặc bằng cách khai thác nhu cầu, sự yếu kém về tinh thần (tâm thần) hay nhẹ dạ của bất cứ người nào, hoặc, đại cương là mọi toan tính hay nỗ lực (dù thành công hay không), trực tiếp hay gián tiếp thâm nhập vào ý thức tôn giáo của con người (dù đã trưởng thành hay còn vị thành niên) thuộc tín ngưỡng khác, với mục đích thay đổi ý thức tôn giáo hay tín ngưỡng của họ, để cho hợp với lý tưởng và niềm tin của phe đi dụ người ta vào đạo, phải tuyệt đối cấm” (Those missionaries whose primary object is proselytization should be asked to withdraw. The large influx of foreign missionaries is undersirable and should be checked. The use of medical or their professional services as a direct means of making conversions should be prohibited by law. Any attempt by force or fraud, or threats of illicit means or grants of financial or their aid, or by fraudulent means or promises, or by moral and materials assistance or by taking advantage of any person’s inexperience or confidence, or by exploiting any person’s necessiry, spiritual (mental) weakness or thoughlessness, or in general any attempt or effort (whether successful or not), directly or indirectly to penetrate into the religious conscience of persons (whether of age or underage) of another faith, for the purpose of consciously altering their religious conscience or faith, so as to agree with the ideas of convictions of the proselytizing party should be absolutely prohibited…)

Tại sao người ta lại phải khuyến cáo như vậy nếu các việc thiện của GiaTô giáo chỉ thuần tuý là việc thiện? Từ những nhận định và tài liệu kể trên chúng ta có thể cho rằng việc thiện của GiaTô giáo là thuần túy có tính cách nhân đạo hay không. Chưa kể đến chuyện giáo hội GiaTô đã dùng nhiều cơ quan từ thiện như Caritas, Red Cross và một số tu viện trong kế hoạch che dấu tội phạm chiến tranh sau Thế Chiến thứ hai với những dịch vụ như làm thông hành giả, ẩn náu trong các tu viện để chờ cơ hội đưa ra ngoại quốc v. v… (Xin đọc cuốn “Unholy Trinity”, St. Martin’s Press, New York, 1990, của Mark Aarons và John Loftus, một cuốn sách dày 372 trang mô tả chi tiết về những hoạt động của Giáo hội GiaTô trong vấn đề này).

Còn vài điểm mà Giáo hội tự phong là quán quân, thí dụ như về giáo dục đại chúng và đạo đức con người, nhưng tôi chắc quý độc giả đã biết thế nào là nền giáo dục GiaTô và thế nào là đạo đức GiaTô rồi, qua những phần tôi đã trình bày ở trên, nên tôi xin được miễn bàn thêm về những vấn đề này.

Trước khi đi vào phần kết luận tôi xin có một lời minh định. Tôi phân biệt rõ ràng giữa Giáo hội GiaTô và các tín đồ GiaTô. Nếu những sách lược của Giáo Hội GiaTô đã tạo nên một lịch sử đen tối cho GiaTô giáo, điều này không có nghĩa là các tín đồ GiaTô đều đen tối. Tôi tin rằng trong GiaTô giáo có rất nhiều người đức hạnh không thua bất cứ người nào trong các tôn giáo khác, nhưng, như tôi đã luận ở trên, chúng ta không thể lấy những trường hợp cá nhân để mà tổng quá hóa vấn đề. Tôi cũng quan niệm rằng, tự do tín ngưỡng là quyền thiêng liêng của con người, kể cả quyền mê tín dị đoan. Nhưng tôi không chấp nhận bất cứ ai dùng cái quyền tự do của mình, hay niềm tin của mình, để bóp nghẹt hay tiêu diệt tự do và niềm tin của người khác.

Từ những tài liệu khảo cứu ở trên, tôi đã chứng minh cùng quý độc giả nói chung, và giới Phật tử nói riêng, là quyển Thánh Kinh không thể nào là cẩm nang khôi phục con người và đạo lý ở Việt Nam như ông Nguyễn Văn Chức đã đề nghị. Muốn ngăn chặn cái ý tưởng nguy hại cho dân tộc này, trách nhiệm của chính quyền và mọi người trong nước là phải mở mang dân trí, phổ biến rộng rãi cho dân chúng biết tất cả những sự thực lịch sử, kể cả những sự kiện về lịch sử các tôn giáo. Tôn giáo không phải là chuyện riêng tư mà liên quan đến mọi khía cạnh của xã hội. Tôn giáo không thể đứng ngoài xã hội hay trên xã hội khi có quyền thế. Cho nên đối với mỗi tôn giáo, chúng ta phải có những công cuộc khảo cứu kỹ càng để xem trong mỗi tôn giáo có những điều nào có lợi hay không có lợi cho quốc gia dân tộc, và từ đó mà tìm ra một phương sách giáo dục để cho hợp với nền văn hóa và truyền thống dân tộc. Với mục đích này, các cuộc hội thảo công khai, trong đó chúng ta có thể mổ xẻ mọi vấn đề trong tinh thần hòa hoãn, đi tìm sự thực qua những sự kiện lịch sử và những tài liệu khả tín, thẳng thắn và cởi mở, rất là cần thiết trong giai đoạn này, trước ngưỡng cửa thế kỷ 21.

Như trong phần đầu của bài này tôi đã đưa ra nhận định của Hòa Thượng Thích Đức Nhuận và của các giáo sư Trần Quốc Vượng và Minh Chi, rằng nền văn hóa dân tộc chính là nền văn hóa Phật Giáo. Trước ngưỡng cửa thế kỷ 21, Đông phương nói chung, Việt Nam nói riêng, phải đối phó với sự xâm lăng của nền văn hóa Tây phương đang ào ạt đổ sang, lợi dụng sự yếu kém kinh tế của các nước Á Đông. Đông phương chỉ có một vũ khí tinh thần duy nhất có thể đối phó được với Tây Phương, đó là tinh thần Phật Giáo. Điều này sẽ rõ ràng hơn qua vài tài liệu tôi sẽ trình bày sau đây.

Điều rõ ràng là nhiệm vụ chính yếu của mọi người dân trong đó Phật tử ắt đóng một vai trò rất quan trọng là chúng ta phải gìn giữ nền văn hóa dân tộc. Gìn giữ bằng cách nào? Chúng ta cần theo con đường kỹ thuật hóa đất nước để cho dân giàu nước mạnh nhưng không Tây phương hóa theo nghĩa tin theo những giáo lý hoang đường, mê tín, phản khoa học, phản nhân vị, phản tổ tiên, phản tổ quốc v. v…. mà lịch sử đã chứng minh đó chính là nguồn gốc của mọi sự suy sụp về luân lý và đạo đức của con người.

Trong bài “Công Nghiệp của 2 Thầy (người Mỹ) Thích Hằng Thiệt và Thích Hằng Triều” đăng trong tờ Đặc San Đại Lễ Phật Đản 2540 của Hội Cư Sĩ Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, trg. 39-51, Bác Sĩ Nguyễn Thanh Giản có cho chúng ta một khuyến cáo rất quý báu: “Chánh đạo từ xưa vẫn ở ngay quê hương các bạn, trong lòng các bạn. Các bạn không cần phải đi tìm ở những nơi nào xa xôi cả. Các bạn phải cảnh giác những gì Tây phương mang tới cho các bạn, vì đa số những cái đó họ đã phế thải cả rồi”.

Thật vậy, ngày nay không ai có thể phủ nhận là Phật giáo đang phát triển mạnh mẽ vào các nước văn minh tiến bộ Âu Mỹ. Tờ Newsweek, số ngày 13 tháng 6, 1994 trích lời của Tracy Cochran, chủ nhiệm cố vấn của tờ Tricycle, như sau: “Nước Mỹ sắp đạt được một sự khám phá quan trọng về Phật Pháp, một sự nở rộ của cái trí tuệ đã làm cho nhiều tỷ người ở phía bên kia của thế giới tỉnh thức” (America, says Tracy Cochran, a consulting editor of Tricycle: The Buddhist Review, is on a verge of a breakthrough in Buddhadharma, a flowering of the wisdom that has enlightened billions of souls on the other side of the world).

Trước sự phát triển của Phật Giáo vào các xã hội tân tiến Tây phương, và trước sự kiện Tây phương chấp nhận những giá trị tinh thần, nhân bản của Phật Giáo, người Việt Nam chúng ta nên hãnh diện về cái nền văn hóa dân tộc của mình. Đất nước của chúng ta quả thật đã may mắn vì đã được thấm nhuần tinh thần Phật Giáo, một tinh thần chủ lực xây dựng nước và giữ nước như đã được chứng minh trong nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử. Chúng ta không nên quên rằng, những chiến công chống xâm lăng oanh liệt nhất trong lịch sử Việt Nam là thời đại Lý, Trần (Thiên hạ Lý Trần bán vi Tăng), thời đại cực thịnh của Phật giáo Việt Nam.

Nhìn lại lịch sử thế giới, trong khi những nước ở Phi Châu, Nam Mỹ, Châu Mỹ La Tinh, Mễ Tây Cơ, Phi Luật Tân, sau khi bị KiTô giáo theo gót thực dân vào thao túng, các nước này đã mất đi những nền văn hóa bản địa vì chính sách tiêu diệt các nền văn hóa địa phương của KiTô giáo, thì Việt Nam vẫn giữ được phần lớn nền văn hóa dân tộc. Việt Nam thoát được phần lớn quốc nạn này là nhờ ở tinh thần Phật Giáo đã ngấm sâu vào lòng đất dân tộc và lòng yêu nước cao độ của người Việt Nam. Cho nên, không có lý do gì mà chúng ta lại phải bỏ đi cái gia tài quý báu của chúng ta để đi theo những thứ mà Tây phương đang muốn và đã bắt đầu phế thải.

Văn hóa Phật Giáo không chỉ riêng là văn hóa Việt Nam mà cũng còn là văn hóa Á Đông. Sau đây tôi xin trích dẫn nhận định của một số học giả đã nổi danh trên trường quốc tế:

1. Tiến Sĩ Edward Conze viết trong cuốn “Phật Giáo “ (“Buddhism”): “Tất cả mọi người sống ở Á Châu đều có thể hãnh diện về một tôn giáo không những có trước tôn giáo Tây phương cả hơn 500 năm mà còn có thể bành trướng và duy trì mà không cần dùng đến bạo lực, và không hề bị hoen ố bởi những cuộc chiến tranh tôn giáo và Thánh chiến” (All those who dwell in Asia can take pride in a religion which is not only five centuries older than that of the West, but has spread and maintained itself without recourse to violence, and has remained unstained by religious wars and crusades).

2. William Hunter viết trong “Lược Sử Dân Tộc Ấn Độ” (A Brief History of the Indian People”): “Tất cả những tôn giáo Á Đông đều phải biết ơn Phật Giáo về giáo lý đạo đức nhất mà giá trị của tôn giáo này còn hữu hiệu cho tới ngay bây giờ mà tột đỉnh của giáo lý này là lòng từ bi đối với mọi chúng sinh, giáo lý của Đấng Toàn Giác” (All Asiatic religions are indebted to Buddhism for the noblest moral element that is effective even today, which culminates in kindness to all that lives and breathes, the doctrine of the perfectly Awakened One).

3. Giáo sư Bapat viết trong cuốn “2500 năm Phật Giáo (“2500 years of Buddhism”): “Phật Giáo thực sự là làn gió xuân thổi từ đầu này tới đầu kia của căn vườn Á Châu và làm nở ra, không những chỉ có những bông sen ở Ấn Độ, mà còn làm nở những hoa hồng ở Ba Tư, hoa đền đài ở Tích Lan, hoa Cúc ở Trung Hoa, hoa Anh Đào ở Nhật bản v. v… Toàn bộ văn hóa Á Châu là văn hóa Phật Giáo không có nơi nào ngoài Đông phương mà tư tưởng Phật Giáo lại có thể thống nhất. Mỗi quốc gia đều có cách riêng để chấp nhận tư tưởng Phật Giáo theo nhu cầu địa phương, nhưng khi khối Đông phương phải đối đầu với Tây Phương thì tư tưởng Phật Giáo là lực nối kết những quốc gia này lại với nhau. Ở đây chúng ta cần nhấn mạnh sự kiện là, nếu lịch sử Phật Giáo có cho thế giới bài học nào, thì đó là trong sự truyền bá đạo Phật từ thung lũng sông Hằng đến Tích Lan ở miền Nam, cho tới miền Cao Nguyên Trung Á ở phía Bắc, rồi tới các hải đảo Nhật Bản ở phía Đông, Phật Giáo, văn hóa, văn minh và giáo dục là những bạn đồng hành không thể tách rời nhau được” (Buddhism was, in fact a sprint wind blowing from one end of the garden to Asia to the other and causing to bloom not only the lotus of India, but the rose of Persia, the temple flower of Ceylon, the zebina of Tibet, the chrysanthemum of China and the cherry blossom of Japan – Asian culture is as a whole, Buddhist culture. It is Buddhist thought and in no ther than India, China and Japan, representing the East, could be a united one. Each nationality has its own characteristic modes of adopting the thought to its environmental needs, but when the East as a unity is made to confront the West, Buddhist thought culture supplies the bond. Here it would suffice to emphasize the fact that if the history of Buddhism in Asia has any lesson for the world today, it is that: in their long trek from the burning mark of the Gangetic to the gem encrusted rocks of Ceylon in the South, the wind-swept uplands of Central Asia in the North, and the sun-confronting islands of Japan in the East, Buddhism, culture, civilization and education were inseparable friends and companions).

Thế giới văn minh đang dần dần chấp nhận Phật Giáo song song với sự phế thải những ý hệ phản tự do, phản dân chủ, phản khoa học. Do đó, những ý hệ này đang suy thoái ở Tây phương và đang tìm cách phát triển sang Đông phương qua những sách lược tuyên truyền che đậy sự thực, dùng tiền tài vật chất lường gạt những người kém hiểu biết và đang ở trong những hoàn cảnh kinh tế ngặt nghèo. Người Việt Nam chúng ta cần phải chứng tỏ cho thế giới thấy là chúng ta đã văn minh tiến bộ, không chấp nhận những đồ phế thải của họ, và gìn giữ cái gia tài tinh thần quý báu của chúng ta mà sau bao thế kỷ bây giờ người Tây phương mới bắt đầu nhận ra chân giá trị của nó.

Ngược lại chúng ta cũng còn có bổn phận phát huy tinh thần Phật Giáo, góp phần truyền bá Phật Giáo vào đại chúng ở trong nước cũng như ở hải ngoại để cho họ thấy đâu là con đường quốc gia dân tộc, đâu là những giá trị tinh thần thiết thực và đâu là những giá trị huyền hoặc. Chúng ta không cần phải ép buộc bất cứ ai, chỉ cần mở mang dân trí, mang đến cho người dân những thông tin xác thực nhất. Một khi dân trí mở mang như các nước Âu Mỹ, tự khắc người dân sẽ thấy đâu là sự thực, sẽ biết cân nhắc giữa phải với quấy, giữa từ bi và ác độc v. v… và tự động họ sẽ nhận ra trách nhiệm phải bảo vệ nền văn hóa dân tộc. Chúng ta cũng cần mở rộng, truyền bá Phật Giáo vào các xã hội Tây phương để mang ánh sáng chân thực, hòa bình, vị tha, khoan dung v. v… của Phật Giáo đến với những người Tây phương đang bị khủng hoảng về những giá trị tinh thần trong những xã hội của họ.

Tôi hy vọng tới đây chúng ta đã có thể ý thức được tầm quan trọng của những hoạt động phục vụ Đạo Phật của mọi Phật tử trước ngưỡng cửa thế kỷ 21 và nắm vững được chủ đề “Phật Giáo với nhiệm vụ gìn giữ và phát huy nền văn hóa dân tộc”.

Trong cuốn “The Final Superstition”, sau khi nghiên cứu tường tận và đánh giá về cái gia tài tinh thần Do Thái – KiTô (Judeo Christian Legacy), Joseph L. Daleiden đã lược duyệt những tín ngưỡng khác (chiếm khoảng 24 trang trong số 443 trang của cuốn sách) như Đa Thần giáo, Khổng giáo, Ấn Độ giáo, Phật Giáo, Hi Lạp Thiên Nhiên Giáo v. v… Về Phật Giáo, ông đã kết luận như sau:

“Hiển nhiên là rất dễ tuột từ vị thế không truy cầu xuống thuần túy trốn tránh. Tăng sĩ Phật Giáo thường trốn tránh không tham gia tích cực vào vấn đề xã hội. Điều này có nghĩa là quay lưng lại với sự bất công thay vì chống lại bất công (tác giả muốn nói đến một số tăng sĩ Tiểu thừa ở vài quốc gia theo Tiểu thừa Phật giáo ngày xưa). Tuy nhiên, điều này thật xa sự thực đối với những tăng sĩ Việt Nam, những người đã tự thiêu để tập trung sự quan tâm của thế giới vào những nỗ lực của Hoa Kỳ để quyết định tương lai của Việt Nam. Những lời giới thiệu hay nhất về Phật Giáo là, như Khổng giáo, cái hệ thống tín ngưỡng này đã tồn tại suốt 25 thế kỷ mà không hề có lấy một cuộc Thánh chiến, một Tòa Án xử dị giáo, hay một toan tính đế quốc nào để đi xâm lăng và hủy diệt văn hóa của một dân tộc khác”. (“It should be apparent that it is very easy to slide from a position of nonstriving to pure escapism. The Buddhist monk has often opted to escape from any meaningful social involvement. This can mean turning one’s back to injustice, rather than combating it. However, this was far from ture for those Vietnamese monks who set themselves ablaze to focus world attention on US efforts to determine the future of Vietnam. The best recommendations for Buddhism is that, like Confucianism, this belief system has existed for tweny-five centuries without a single Crusade, Inquisition, or imperialist attempt to invade and destroy the culture of another people”).

Và đây cũng là câu tôi muốn dùng để kết thúc bài viết này.

GS Trần Chung Ngọc

TÀI LIỆU THAM KHẢO (SELECTED READINGS)

Aarons, Mark & Loftus, John, “Unholy Trinity: How the Vatican’s Nazi Networks Betrayed Western Intelligence to the Soviets” St. Martin’s Press, New York, 1991.

Akerley, Ben Edward, “The X-Rated Bible: An Irreverend Survey of Sex in The Scriptures”, AA Press, Austin, Texas, 1989.

Alves, Rubem, “Protestantism and Repression”, orbis Books, New York, 1979.

Aterin, Karl Otmar Von, “The Papacy and the Modern World”, Weidenfeld & Nicholson, London, 1970.

Baldwin, Louis, “The Pope and the Mavericks”, Prometheus Books, New York, 1988.

Ball, W. P. Foote, G. W. et al. , “The Bible Handbook”, AA Press, Austin, Texas, 1986.

Batchelor, Stephen, “The Awakening of the West: The Encounter of Buddhism and Western Culture”, Parallax Press, Berkeley, CA, 1994.

Beeson, Trevor & Pearce, Jenny, “A Vision of Hope: The Churches and Change in Latin America”, Fortress Press, Philadelphia, 1984.

Nino Lo Bello, “The Vatican Empire”, Triden Press, New York, 1968.

Berry, Jason, “Lead Us Not to Temptation: Catholic Priests and the Sexual Abuse of Children”, Doubleday, New York, 1992.

Berryman, Phillip, “Liberation Theology”, Pantheon Books, New York, 1987.

Bhushan, Shashi, “Fundamentalism: A Weapon Against Human Aspiration”, Pradeep Kumar, India, 1986.

Binns, L. Elliott, “The Decline and Fall of the Medieval Papacy”, Barnes & Nobles Book, New York, 1995.

Blanshard, Paul ,

1. “American Freedom and Catholic Power”, Beacon Press, Boston, 1950;

2. “Communism, Democracy, and Catholic Power”, Beacon Press, Boston,1951.

Boff, Leonardo,

1. “Church: charism & Power”, Crossroad, New York, 1986;

2. “Faith on the Edge”, Orbis Books, New York, 1989.

Burkett, Elinor & Bruni, Frank, “A Gospel of Shame: Children, Sexual Abuse, and the

Catholic Church”, Viking, New York, 1993.

Bussmann, Clauss, “Who do you say? Jesus Christ in Latin American Theology”, Orbis Book, New York, 1985.

Chu Bằng Lĩnh, “Đảng Cần Lao”, NXB Mẹ VN, CA. , 1993.

Chu Văn Trình,

1. “Gia Tô Thực Dân Sử Liệu”, Florida, 1990;

2. “Sách Lược Gia Tô Thực Dân Thống Trị Toàn Cầu”, Florida, 1990;

3. “Gia Tô Thực Dân Chính Sử”, Florida, 1993;

4. “Gián Điệp Alexandre de Rhodes và Chữ Quốc Ngữ”, Florida 1996.

Cao Huy Thuần, “Les Missionaires et la Politique Coloniade Francaise au Vietnam (1857-1914)”, Yale Southeast Asia Studies, 1990.

Carmichael, Joel, “The Birth of Christianity: Reality and Myth”, Doreset Press, New York, 1989.

Cox, Harvey,

1. “The Silencing of Leonardo Boff: The Vatican and the Future of World Christianity”, Meyer-stone Books, Oak-Park, IL. , 1988;

2. “Many Mansions: A Christian’s Encounter with other Faiths”, Y Collins, London, 1988.

Cross, Colin, “Who was Jesus”, Barnes & Nobles, New York, 1970.

Croucher, Paul “Buddhism in Australia, 1848-1988”, New South Wales University Press, AU, 1989.

Daleiden, Joseph L. , “The Final Superstition: A Critical Evaluation of the Judeo-Christian Legacy”, Promethueus Books, New York, 1994.

Dalian, Robert, “Dieu Contre dieu”, dité par l’HOmme Lucide, France, 1974.

Davies, J. G. , “The Early Christian Church”, Barnes & Nobles Books, New York, 1994.

Dunn, Joseph, “The Rest of Us Catholics: The Loyd Opposition”, Templegate Publishers, Illinois, 1994.

Đỗ Mậu, “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi”, Văn Nghệ Publishing Co. , CA, 1993.

Eaton, Frederick Heese, “Scandalous Saints”, Own Pub. , CA, 1994.

Ellul, Jacques, “The Subversion of Christianity”, William B. Eerdmans Publishing Company, Michigan 1986.

Ferm, Deane William, “Third World Liberation Theologies”, Orbis Book, New York, 1987.

Foote, G. W. , “Bible Romances”, The pioneer Press, London, 1922.

Forest, Alain & Tsuboi, Yoshiharu, “Catholicisme et Sociétés Asiatiques”, L’Harmattan, Tokyo, 1988.

Friedman, Richard Elliott, “Who Wrote the Bible?” Harper & Row, Publishers, New York, 1989.

Gauvin, Marshall J. , “One Hunded Contradictions in the Bible”, The Truth Seeker Company, New York, 1922.

Gibbon, Edward, “The Decline and Fall of the Roman Empire”, Hartcourt, Brace and Company, New York 1960.

Granfield, Patrick, “The Limits of the Papacy”, Crossroad, New York, 1990.

Green, Ruth Hurmence,

1. “The Book of Ruth”, Freedom From Religion Foundation, Wisconsin, 1982;

2. “The Born Again Skeptic’s Guide to the Bible”, Freedom From Religion Foundation, Wisconsin, 1979.

Greenleaf, Richard E. , “The Roman Catholic Church in Colonial Latin America”, Alfred A. Knopf, New York, 1971.

Guillemin, Henri, “Malheureuse Église”, Éditions Du Seuil, Paris, 1992.

Hammer, Richard, “The Vatican Connection”, Chanter Books, New York, 1983.

Thích Nhất Hạnh,

1. “The Miracle of Mindfulness”, Beacon Press, Boston, 1987;

2. “Living Buddha, Living Christ”, Riverhead Books, New York, 1995.

Hanson, Eric O. , “The Catholic Church in World Politics”, Princeton University Press, New Jersey, 1987.

Harris, Michael, “Unholy Orders, Tragedy at Mount Cashel”, Penguin Books Ltd. , Middlesex, England, 1990.

Hayward, F. H. , “Questions for Catholics: A Brief inquiry into the Catholic Argument” Watts & Co. , London, 1928.

Hofmann, Paul, “O Vatican! A slightly Wicked View of the Holy See”, Congdon & Weed Inc. , New York, 1984.

Humphreys, Christmas, “Zen Comes West”, Allen & Unwin, London, 1960.

Ingersoll, Robert G. ,

1. “Some Mistakes of Moses”, Freethought Pres Association, New York, 1967;

2. “Sixty Five Press Inverviews”, AAP, Austin, Texas, 1983, John Paul II, “Crossing the Threshold of Hope”, Alfred A. Knof, New York, 1994.

Kavanaugh, James “A Modern Priest Looks at his Outdated Church”, Pocket Books, New York, 1968.

Kersten, Holger, “Jesus Lived in India: His unknown Life Before & After the Crucifixion”, Element Books Limited, Rockport, MA, 1994.

Kersten, Holger & Gruber, Elmar R. , “The Jesus Conspiracy: The Turin & The Truth About the Resurrection”, Barnes & Nobles Books, New York, 1995.

Las Vergnas, Georges, “Pourquoi J’ai Quitté L’Église Romaine”, Imprimerie Les Comtois, Besancon, France, 1956.

Lê, Nicole-Dominique, “Les Missions-Étrangères et la Pénétration Francaise au Viet Nam”, Mouton & Co. , France, 1975.

Lê Trọng Văn,

1. “Những Bí Ẩn Lịch Sử Dưới Chế Độ Ngô Đình Diệm”, NXB Mẹ Việt Nam, CA, 1989;

2. “Bước qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng hay Bến Bờ Ảo Vọng”, San Diego, CA. , 1996.

3. “Pétrus Trương Vĩnh Ký: Tuyển Tập”, San Diego, CA. , 1996.

Lea, Henry Charles “The Inquisition of the Middle Ages”, Barnes & Nobles Books, New York, 1993.

Lernoux, Penny,

1. “Cry of the People”, Penguin Books, New York, 1991;

2. “People of God”, Penguin Books, New York, 1989.

Lewis, Joseph, “Ingersoll: The Magnificent”, AA Press, Texas, 1983.

Manhattan, Avro,

1. “The Vatican’s Holocaust”, Ozark Books, Springfield, MO. , 1986;

2. “The Vatican Billions”, Paravision Books, London, 1972;

3. “Catholic Imperialism and World Freedom”, Watts & Co. , London, 1952;

4. “Vietnam: Why Did We Go?”, Chick Publications, CA. , 1984.

Martin, Malachi,

1. “The Keys to this Blood”, A Touchtone Book, New York, 1990;

2. “Rich Church, Poor Church”, G. P. Putnam’s Sons, New York, 1984;

3. “The Decline and Fall of the Roman Church”, Bantam Books, New York, 1983.

Martin, Michael, “The Case Against Christianity”, Temple University Press, Philadelphia, 1991.

McCabe, Joseph,

1. “The Vatican’s Last Crime: How the Black International Joined the World-Plot Against Freedom, Liberalism, and Democracy”, Haldeman-Julius Co. , Kansas, 1941;

2. “Rome Puts the Blight on Culture: The Roman Church the Poorest in Culture and Richest in Crime”, Haldeman-Julius Publications, Kansas 1942;

3. “The Church: The Enemy of the Workers. Rome is the natural Ally of All Exploiters”, Haldeman-Julius Publications, Kansas, 1942;

4. “The Truth about the Catholic Church”, Haldeman-Julius Publications, Kansas, 1926;

5. “The Totalitarian Church of Rome: Its Fuehrer, Its Gauleiters, Its Gestapo, and Its Money-Box”, Haldeman-Julius Publication Kansas, 1942.

McLoughlin, Emmet

1. “American Culture and Catholic Schools”, Lyle Stuart, Inc. , New York, 1960;

2. “People Padre”, Beacon Press, Boston, 1961;

3. “Crime and Immorality in the Catholic Church”, Lyle Stuart, Inc. , New York, 1962;

4. “Letters to an Ex-Priest”, Lyle Stuart, Inc. , New York, 1965.

Morlat, Patrice, “La Répression Coloniate au Vietnam (1908-1940)”, L’Harmattan, Tokyo, 1990.

Nguyễn Xuân Thọ, “Histoire de la Pénétration Francaise au Viet Nam (1858-1897)”, Trung Tâm Văn Hóa Linh Sơn, Hl. , 1993.

Nguyệt Đam & Thần Phong, “Chín Năm Máu Lửa Dưới Chế Độ Gia Đình Trị Ngô Đình Diệm”, Tác Giả xuất bản, Sài Gòn, 1964.

Nichols, Peter “The Politics of the Vatican”, Frederick A. Praeger, Publishers, New York, 1968.

Obianyido, Anene, “Christ or Devil? The Corrupt Face of Christianity in Africa”, Delto Publications Limited, 1988.

O’Brien, George Dennis, “God and the New Haven Railway, and Why Neither One is Doing very well”, Beacan Press, Boston 1986.

Padchi, “The Holy Humbugs”, Arivagam, Sri Lanka.

Paris, Edmond, “Genocide in Satellite Croatia: 1941-1945”, The American Institute for Balkan Affairs, Chicago, 1961.

Peters, Edward, “Inquisition”, the Free Press, New York, 1988.

Pigott, Adrian, “Freedom’s Foe – The Vatican”, the Pioneer Press, 1965.

Plaidy, Jean, “The Spanish Inquisition”, Barnes & Nobles Books, New York, 1994.

Rajneesh, B. S. , “Priests & Politicians: The Mafia of the Soul”, The Rebel Publishing House, cologne, Germany, 1987.

Rausch, David A. , “A Legacy of Hatred: Why Chistians Must not forget the Holocaust”, Moody Press, Chicago, 1984.

Remsburg, John E. , “False Claims”, The Truth Seeker Company, New York, 1928.

Rice, David “Shattered Vows, Priests Who Leave”, William Morrow & Co. , Inc. , New York, 1990.

Robinson, John J. , “Dungeon, Fire and Sword”, M. Evans & Company In. , New York, 1991.

Sangharakshita, “Buddhism & the West: The Intergration of Buddhism Into Western Society”, Windhorse Publications, Glasgow, Austratlia, 1992.

Schoenherr, Richard & Young, Lawrence, “Full Pews and Empty Altars”, The Universtity of Wisconsin Press, WI. , 1993.

Seldes, George, “The Vatican Crisis”, Julian Messner, Inc. , New York, 1945.

Schonfield, Hugh J. , “The Passover Plot”, Bantam Books, New York, 1966.

Sipe, A. W. Richard, “Sex, Priests, and Power: An Anatomy of a Crisis”, Brunner/Mazel Publishers, New York, 1995.

Smith, Wilfred Cantwell, “The Faith of Other Men”, A Mentor Book, New York, 1965.

Thiering, Barbara “Jesus and the Riddle of the Dead Sea Scrolls”, Harper, San Francisco, 1988.

Trần Tam Tĩnh, “Dieu et César: Les Catholiques dans L’Histoire du Vietnam”, Sudestasie, Paris, France, 1976.

Treece, Henry, “The Crusades”, A Mentor Book, New York, 1964.

Tuck, Patrick J. N. , “French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam, 1857-1914: A Documentary Survey”, Liverpool University Press, G. B. , 1987.

Voas, David, “The Bad New Bible: The New Testatment”, Prometheus Books, New York, 1995.

Wallace-Hadrill, J. M. “The Barbarian West: The Early Middle Ages”, Harper Torch Books, New York, 1960.

Yamamoto, Kosho, “Buddhism in Europe”, Kurinbunko, 1967.  

“Le Cléricalisme: Voilà l’Ennemi! Les Meilleures Pensées Anticléricales de Ferdinand Buisson, Léon Gambetta, Émile Combes, Vicor Hugor, et al”, Herblay (Seine et Oise), Éditions de l’Idée Libre, 1937.

“Holy Bible”, The New King James Version, American Bible Society, New York, 1982.

“The Holy Bible”, New International Version, Internatioanl Bible Society, CO. , 1984.

“KiTô Giáo: Từ Thực Chất đến Huyền Thoại”, NXB Văn Hóa, USA 1996.

“Thánh Kinh: Cựu Ước và Tân Ước (Bản Diễn Ý)”, Văn Phẩm Nguồn Sống Phát Hành, 1994.


Related news items:

 

Thêm bình luận

Trang nhà có cài bộ gõ tiếng Việt, tự động nhận ra các kiểu gõ, xin các bạn sử dụng tiếng Việt có dấu. Những bình luận không bỏ dấu chúng tôi sẽ không đăng.


Mã an toàn
Refresh (Nhấn vào đây để lấy mã an toàn khác)

Kinh lời vàng - PC
417. "Bỏ trói buộc loài người,
Vượt trói buộc cõi trời.
Giải thoát mọi buộc ràng,
Ta gọi Bà-la-môn."



Bài mới nhất
Bài xem nhiều nhất