| Phật Giáo Việt Nam ... - II. Nội dung Thánh Kinh |
|
|
|
| Nghiên Cứu Phật Học - Phật Giáo và Dân Tộc | |||||||||
| Viết bởi Trần Chung Ngọc | |||||||||
Trang 3 của 4 II. NỘI DUNG THÁNH KINH Có thể nói cuốn Thánh kinh là cuốn sách bán chạy nhất trên thế giới. Trong phương trời Âu Mỹ hầu như mỗi nhà tín đồ KiTô giáo nói chung đều có ít nhất là một cuốn Thánh Kinh, thường được dùng làm vật trang trí hay vật hứng bụi (dust collector) vì chẳng có mấy ai đọc nó. Nhưng đây cũng là một cuốn sách mà người ta đã đưa lên bàn mổ để nghiên cứu phân tích, thẩm định giá trị khả tín v. v…. kỹ nhất và đầy đủ nhất. Người ta đã phân tích từng câu từng chữ trong Thánh Kinh, tìm hiểu xuất xứ, ai viết và viết bao giờ? Thí dụ, một nhóm khoảng 200 học giả chuyên về Thánh kinh (Bible experts) thuộc mọi tông phái trong KiTô giáo đã cùng nhau nghiên cứu Thánh Kinh trong nhiều năm, từ 1985, và có những phiên họp định kỳ để bỏ phiếu về những câu mà người ta cho rằng Giê-Su nói ở trong Thánh Kinh và những phép lạ Giê-Su làm được kể trong Thánh kinh. Thể thức bầu phiếu của họ là đưa ra 4 loại nút màu khác nhau: Nếu nhà khảo cứu cho rằng lời nói hay phép lạ đó “đúng” là GiêSu nói hay làm thì bỏ nút màu đỏ, “không đúng” thì nút màu đen, “có thể đúng” thì nút màu hồng, “có thể đúng, có thể không” thì nút màu xám. Kết quả? Giêsu KHÔNG NÓI 80% những điều ghi trong Thánh kinh và GiêSu CÓ THỂ chỉ có khả năng chữa lành một số bệnh tâm thần liên hệ đến sự cử động của thân thể (psychosomatic) hay mẩn da (skin rashes). Ngoài ra, GiêSu không hề thực hiện một phép lạ nào như đi trên nước, làm yên một cơn bão tố ngoài biển, hay cứu người chết sống lại, biến nước thành rượu v. v…, tất cả chỉ là vay mượn từ các huyền thoại Hi Lạp (The Seminar scholars believe the Gospel writers borrowed from the Greek poet Homer), hoặc phóng đại quá mức để nhấn mạnh đến quyền năng của Giê-Su (The Seminar fellows suggest that the Gospel writers exaggerated the stories in order to emphasize Jesus’s power). Tôi xin nhắc lại, đây là công việc nghiên cứu trí thức của các chuyên gia KiTô giáo, không phải của những người ngoại đạo, dựa trên rất nhiều tài liệu và sự kiện lịch sử. Ngoài ra, cũng đã có những công cuộc nghiên cứu và xuất bản những tác phẩm về mọi khía cạnh của Thánh kinh, thí dụ như: liệt kê những chuyện dâm ô trong Thánh Kinh (The X-Rated Bible: An Irreverent Survey of Sex in the Scriptures”, Ben Edward Akerley, AA Press, Austin, Texas, 1989); những mâu thuẫn (contradictions), vô nghĩa (absurdities), bạo tàn (atrocities) v. v… trong Thánh kinh (The Bible Handbook”, W. P. Ball, G. W. Foote, John Bowdenm, Richard M. Smith etc. Revised Edition, AA Press, Austin Texas, 1986; “The Born Again Skeptic’s Guide to the Bible”, Ruth Hurmence Green, Freedom From Religion Pub. , Wisconsin, 1979); phân tích và phê bình những chuyện trong Thánh Kinh (“The Bible Unmasked” (Lột Mặt Nạ Thánh Kinh), Joseph Lewis, The Freethought Press Assocition, New York, 1941); phân tích từng quyển một trong Thánh Kinh (“Chirstianity Cross-Examined” (Thẩm vấn KiTô giáo), William Floyd, Arbitrator Press, New York, 1941); phân tích và phê bình từng câu một trong Tân Ước (The Bad News Bible: The New Testament” (Cuốn Thánh Kinh mang tin xấu: Cuốn Tân Ước), David Voas, Prometheus Books, New York, 1995) v. v. và v. v…. Điều chắc là những tín đồ Gia Tô hầu như rất ít người đọc cuốn Thánh Kinh, khoan nói đến chuyện đọc những tác phẩm nghiên cứu kể trên. Cũng vì vậy họ chỉ biết tới một vài đoạn chọn lọc được giảng với ý nghĩa nằm ngoài toàn bộ Thánh Kinh (Out of context) bởi những chức sắc GiaTô, những người đã được huấn luyện rất kỹ về “nghệ thuật” trích dẫn và giảng Thánh Kinh. Robert G. Ingersoll, một tư tưởng gia lỗi lạc của Mỹ vào cuối thế kỷ 19 đã đưa ra một thách đố: ông sẽ tặng một giải thưởng là $100 (năm 1890) cho vị linh mục hay mục sư nào dám lên bục giảng giải những đoạn mà chính Ingersoll trích dẫn từ Thánh Kinh. Trong nhiều năm, không có một người nào nhận lời thách đố này cả. Một người có óc suy luận tối thiểu có thể mường tượng ngay ra là nội dung những đoạn đó trong Thánh Kinh nó như thế nào. Ira Cardiff, một khoa học gia đã đưa ra nhận xét sau đây: “Hầu như không có ai thực sự đọc cuốn Thánh kinh. Cá nhân mà tôi nói đến ở trên (một tín đồ thông thường) chắc chắn là có một cuốn Thánh Kinh, có thể là cuốn sách duy nhất mà họ có, nhưng họ không bao giờ đọc nó - đừng nói là đọc cả cuốn. Nếu một người thông minh đọc cả cuốn Thánh kinh với một óc phê phán thì chắc chắn họ sẽ vứt bỏ nó đi” (Virtually no one really read the Bible. The above mentioned individual doubtless has a Bible, perhaps the only book he owns, but he never reads it – much less read all of it. If an intelligent man should critically read it all, he would certainly reject it). Và David Voas, Giáo sư đại học tiểu bang New Mexico (New Mexico State University), trong cuốn “Cuốn Thánh Kinh Mang Tới Tin Xấu: Cuốn Tân Ước” (The Bad News Bible: The New Testament”, Prometheus Books, New York, 1995, trg. 1-2 ) đã viết như sau: “Vấn đề là người ta nghĩ rằng người ta biết ở trong Thánh Kinh có những gì, hoặc ít nhất là Thánh Kinh chứa loại tài liệu gì. Hầu hết đều lầm, họ chỉ quen thuộc với vài đoạn trích dẫn đã được giáo hội chấp thuận, và họ sẽ ngỡ ngàng khi thấy không những Thượng Đế trong Cựu Ước khủng khiếp dễ sợ như thế nào, mà con của Thượng Đế (nghĩa là Gie-Su, TCN) trong Tân Ước cũng còn ở dưới mức hòan hảo khá xa. Thông điệp của Giê-Su không hẳn toàn là tin mừng, thiên đường nhiều nhất là một viễn cảnh không chắc chắn. Xét về toàn bộ thì đó rất có thể là cuốn Thánh kinh mang tới tin xấu” (The problem is that people think they know what’s in the Bible, or at least what kind of material it contains. Most of them are wrong: they are only familiar with a few church-approved extracts, and are astonished not just how awful God is in the Old Testatment, but also at how much less than perfect his son seems in the New. The message of Jesus isn’t all good news; paradise is an uncertain prospect at best. Taken as a whole, it could well be The Bad News Bible). Trên đây chỉ là hai nhận định rất tổng quát của hai học giả. Qua hai nhận định trên chúng ta không thể biết gì về nội dung của cuốn Thánh kinh. Muốn biết rõ về nội dung cuốn Thánh kinh chúng ta cần trích dẫn nhiều đoạn trong đó. Nhưng tôi xin phép quý độc giả cho tôi được miễn phần này, vì thực sự tôi không muốn vi phạm thuần phong mỹ tục, và vì nếu bài này được phổ biến ở Việt Nam thì ban kiểm tục sẽ phải bôi bỏ hết phần trích dẫn này. Thay vì trích ra để dẫn chứng, tôi chỉ xin nêu sau đây ba tài liệu, qua ba tài liệu này quý độc giả có thể ít ra là mường tượng được nội dung cuốn Thánh kinh ra sao. 1. Trong cuốn “Quyển Ruth” (“The Book of Ruth”, Freedom From Religion Foundation, 1982, trg. 6-8 & 59-60), Ruth Hurmence Green, một phụ nữ đã trưởng thành trong một gia đình GiaTô và trong nền giáo dục GiaTô, đã viết như sau: “Không có cuốn sách nào mà trong đó mạng sống con người, thật ra là mọi mạng sống, lại rẻ rúng như vậy. Cái vị Chúa ác ôn của Cựu Ước ra lệnh cho dân Do Thái giết, cưỡng hiếp, và tra tấn không thương xót toàn thể nhiều quốc gia, “trẻ thơ và sơ sinh, thiếu niên và trinh nữ, và người già cả”. Nếu họ không tuân lệnh thì chính họ sẽ chịu sự thịnh nộ thù hằn của Chúa. Những con cưng của Chúa đã vâng lời tàn sát nhiều ngàn người, xé xác những phụ nữ đang mang thai, quật con nít vào đá, để các đầu lâu vào trong những sọt rác và chặt chân tay những nạn nhân của họ. Cái kẻ tội phạm vô tiền khoáng hậu này (Chúa) đã nhận chết đuối toàn thể nhân loại trừ gia đình của một tên say rượu (Noah). Hắn đã khiến cho trái tim của Pharaon thành trai đá nên đã giết tất cả các trẻ sơ sinh ở Ai Cập. Vì sự tái sinh của hắn trên trái đất (nghĩa là sự sinh ra của Giê-su) mà trong một vùng rộng lớn mọi bé trai dưới hai tuổi đều bị giết (bởi Herod). Có thể bảo tôi được chăng là mạng sống con người là thiêng liêng đối với Chúa? Cuốn Tân Ước cũng không ủng hộ gia đình như là một ưu tiên của dân KiTô Giáo. Giê-Su không những khinh khi chính gia đình mình, mà trong một trường hợp, còn từ chối nói chuyện với gia đình của mình (Mathew 12: 46-49) nhưng lại đòi hỏi những người theo mình phải từ bỏ gia đình họ, nói rõ rằng kẻ nào muốn làm đệ tử thì phải bỏ tất cả những gì kẻ đó có (Luke 14:33). Cuốn Thánh Kinh đã được dùng trong nhiều thế kỷ để sát hại nhiều triệu mạng người, và KiTô giáo đã phá nát gia đình, như GiêSu đã hứa hẹn: “Ta sinh ra để làm cho con nghịch với cha, con gái nghịch với mẹ, con dâu nghịch với mẹ chồng, và những người trong nhà thành kẻ thù của nhau” (Matthew 10:35-36). Trong Ngày Phán Xét các gia đình sẽ bị tan nát. Vậy ai là kẻ còn có thể cho rằng cuốn Thánh Kinh ủng hộ gia đình hay đời sống của con người? Không có một trang sách nào trong Thánh Kinh mà không làm tôi bất bình về một phương diện nào đó. Thật ra, sau mỗi lần tìm hiểu Thánh Kinh tôi lại muốn đi tắm rửa sạch sẽ với xà bông “lye” của bà nội. Và khi tôi thấy Thánh Kinh coi thường phụ nữ thường là tôi muốn quẳng nó ra cuối phòng. Tôi nguyện không bao giờ còn cầm cuốn Thánh Kinh một cách lộ liễu trên tay ở nơi công cộng. Thomas Paine, đấng cứu rỗi thực sự của thế giới, đã tố cáo cuốn Thánh Kinh thay tôi: “Tôi thành thật ghê tởm nó như là tôi ghê tởm mọi sự độc ác”. Nhưng không phải trong đó chỉ có những sự ác độc và những sự tàn bạo không thể tưởng tượng được. Nếu là chuyện tục tĩu, bạn sẽ thấy nó trong cuốn sách này. Nếu là chuyện dâm ô, bạn sẽ thấy nó trong Thánh Kinh, và bạn không cần phải mất công tìm kiếm. Tôi không khuyên bạn mở ra bất cứ trang nào và đọc cái đoạn nó đập vào mắt bạn đầu tiên. Bạn có thể vi phạm luật kiểm duyệt. Nếu luật kiểm duyệt được thi hành một cách chặt chẽ, cuốn Thánh Kinh sẽ phải bán dấu diếm dưới quầy hàng”. (There is no other book in which human life, all life in fact, is so cheap. The friendish Lord of the Old Testament orders the Jews to kill, rape, and torture without pity entire nations, “infant and suckling, young man and virgin, and the man with gray hair”. If they do not obey, they feel the wrath of the Lord’s vengeance themselves. His favorites dutifully massacre thousands, rip up pregnant women, and dash little ones against the stones, putting heads in baskets and multilating their victims. This criminal of all time drowns the entire population of the world except for the family of a drunkard. He hardens Pharaoh’s heart to make it possible to put all the first born of Egypt to the sword. He comes to earth incarnate in such a manner that all male children under two in a vast area must be killed, again with the edge of the sword. Tell me, if you can, that human life is sacred to the Lord. The New Testament yields little support for the family as even a Christian priority. Jesus not only shows contempt for his own family, even refusing to speak to them on one occasion (Matthew 12: 46-49) but demands that his followers abandon theirs, specifying that those who wish to be his disciples must “forsake all that he hath” (Luke 14:33) The Bible has been used for centuries to persecute millions of human beings, and Christianity has decimated families as Jesus promised it would: “For I have come to set a man at variance against his father, and the daughter against her mother, and the daughter-in-law against her mother-in–law. And a man’s foes shall be they on his own household”. (Matthew 10:35-36). On Judgment Day families will be torn apart. Does anyone still presume to picture the Bible as pro-family and pro-life? There wasn’t one page of this book that didn’t offend me in some way. In fact, after a session of searching the scriptures, I always wanted to take a bath with Grandma’s lye soap. And when I encountered the Bible’s disdain for women, I very often almost pitched the good book across the room. I vowed never to be seen in public with an unconcealed Bible in my hands. Thomas Paine, the true savior of the world, denounced the Bible for me “I sincerely detest it as I detest everything that is cruel”. But it wasn’t only the cruelty and the unimaginable atrocities. If there is obscenity, you’ll find it in this book. If there is pornography, you’ll find it in the scriptures, and you won’t even have to search. I don’t advise opening aimlessly and reading aloud the first passage that meets the eye. You might violate a censorship law. Strict censorship would mean that the Bible would have to be sold from under the counter). 2. Trong cuốn “Kinh Tình Thương Đối với Tội Ác” (The Gospel of Love Vs Crime”, Truth Seeker, Box 2832, San Diego, California, trg. 6-7) Jack Bays viết như sau: “Tín điều về sự đày đọa vĩnh viễn là tín điều của những kẻ ác ôn. Hãy nghĩ tới hàng ngàn trẻ con và những người vô tư mà đời sống của họ chất đầy ảm đạm. Những giáo lý này đã trải phủ trái đất với những đống xương vàng của những người dị giáo và học giả. Chúng ta thấy sự đàn áp ngoại đạo của Constantine, Clovis, Justinian, Theodorius và Charlemagne; chúng ta thấy những cuộc thánh chiến trong đó có tới 20 triệu người bị giết; chúng ta thấy sự tàn sát bừa bãi đàn ông, đàn bà, trẻ con ở Jerusalem bởi Godfrey - thấy những nhà thờ Hồi Giáo chồng chất từng đống thây người Saracine - những người Do Thái bị thiêu sống trong các giáo đường Do Thái; chúng ta thấy Coeur de Lion tàn sát hàng ngàn những người bị bắt; sự cướp bóc và tàn sát ở Constantinople bởi dân Frank; chúng ta thấy dân Moor bị đuổi ra khỏi Tây Ban Nha trong những cuộc tàn sát đẫm máu, cảnh giết hại dân Huguenots và Waldenes, sự tàn sát những nông dân Đức, sự tan hoang của Ái Nhĩ Lan – Hòa Lan phủ đầy máu; chúng ta chứng kiến Smithfield và Bartholomew (các cuộc tàn sát nhiều ngàn người vì tôn giáo; TCN), chúng ta thấy Tòa Hình Án xử Dị Giáo với những hình cụ tra tấn ác ôn không thể đếm xuể; chúng ta thấy Auto-da-fé (cuộc lễ sau phiên tòa xử dị giáo, trao nạn nhân cho chính quyền hành hạ và thiêu sống; TCN), - nơi mà những người bị kết án là dị giáo bị chế riễu rồi dẫn đi tra tấn hay thiêu sống; chúng ta thấy con người bị căng ra trên cái giá, bẻ trẹo khớp xương, và chân tay bị xé ra; chúng ta thấy họ bị lột da sống – thân xác đẫm máu của họ bị đóng dấu bằng sắt nung đỏ; chúng ta thấy con người bị phủ đầy hắc ín rồi thiêu sống; chúng ta thấy họ bị treo cổ và cắt ra từng mảnh; chúng ta thấy họ bị những móc sắt hơ nóng móc lòi con ngươi ra … lưỡi họ bị kéo ra – xương họ gẫy nát – mình họ bị cả ngàn mũi kim đâm vào; chúng ta thấy những bà già bị trói chặt vào chân những con chiến mã hung hăng, và hàng triệu người bị tra tấn bởi những hình cụ ác ôn mà các bọn cuồng tín tôn giáo có thể nghĩ ra, Bọn người này nhận được quyền lực trực tiếp từ Thần GiaTô vì mọi điều này được dạy ngay trong Thánh Kinh. (Tác giả mô tả những sự kiện trong lịch sử GiaTô giáo cùng những cảnh tra tấn trong các tòa hình án. TCN) Thật vậy, đó là những gì mà giáo hội GiaTô đã mang tới cho thế giới, thay vì hòa bình và tình huynh đệ của phúc âm về tình thương. Những điều trên đã làm cho GiaTô giáo thành một tôn giáo đẫm máu nhất như chưa có tôn giáo nào làm đen tối mặt trái đất như vậy. Trong thế kỷ vừa qua, hơn 90% các cuộc chiến tranh là chiến tranh của người KiTô giết người KiTô hay người ngoại đạo. Tất cả những chiến cụ khủng khiếp; bom nguyên tử, hơi độc, phi cơ chiến đấu, v. v…. đều là phát minh của người KiTô giáo. Trong bất cứ cuộc chiến nào cũng có những người giảng đạo, linh mục, mục sư ở mỗi phe cầu nguyện và thúc dẩy sự giết chóc như là Jehovah (Chúa Cha) già nua tàn bạo đã làm cho dân Do Thái khi họ tàn sát dân chúng trong vùng đất hứa, chiếm đoạt nhà cửa, gia sức và cả con gái của họ”. “Đức quốc xã giết những người Do Thái chỉ vì những việc mà tổ tiên của họ làm trước đó 50 hay 100 năm. Điều này có đúng hay không? Không, nhưng thế còn mười lần đúng hơn là luận phạt con người vì một tổ tiên Adam, làm 6000 năm về trước. Đức quốc xã lùa dân Do Thái vào các phòng sát sinh và giết họ trong vòng vài phút. Thần trong Thánh Kinh hứa vứt con người vào trong một cái hồ lửa, không cho họ chết mà giữ họ hấp hối trong đó vĩnh viễn. Thật là tệ hơn Đức quốc xã tới cả 10. 000 lần. Giá thử những người KiTô lúc đầu được phép quảng bá Kinh về tình thương thì cái bản chất độc đoán, hiếu chiến của dân Tây phương đã đỡ đi và những cảnh đổ máu và cực khổ mà chúng tôi kể trên đã có thể tránh được. Chúng ta có thể thấy điều này qua sự quan sát ảnh hưởng của Kinh về tình thương trên những dân tộc Đông phương. Lịch sử lúc đầu của Ấn Độ cũng đẫm máu như lịch sử của mọi nước khác, bộ Bách Khoa Tự Điển ghi như vậy, nhưng sau khi Kinh về tình thương (Kinh Từ bi của đức Phật; TCN) truyền tới họ thì bản chất của họ thay đổi, và họ trở thành những người yêu hòa bình và có lòng từ bi đối với mọi sinh vật. Vua A Dục là một lãnh chúa chưa từng thất trận, nhưng khi Kinh về tình thương yêu được giảng cho ông ta thì ông ta đã buông gươm xuống và sau đó chinh phục mọi thứ bằng tình thương và tình huynh đệ. Ông đã dùng suốt cuộc đời còn lại của mình để truyền bá cái thông điệp đó. ” (trg. 21) (The dogma of everlasting torment is the dogma of friends. Think of the thousands of children and simple minded adults whose lives have been filled with gloom! These teachings have strewn the earth with the yellow bones of heretics and scholars. We see the persecutions of Constantine, Clovis, Justinian, Theodosius, and Charlemagne; we see the crusades in which twenty million were killed; we see the indiscriminate massacre of men, women and children in Jerusalem by Godfrey – see the mosques piled seven deep in murdered Saracines – Jews burn in their synagogues; we see Coeur de Lion slaughtering thousands of captives; the Franks pillaging and slaughtering in Constantinople; we see the Moors expelled from Spain in bloody slaughter, the murder of the Huguenots and Waldenes, the slaughter of the German peasants, the desolation of Ireland-Holland covered with blood; we witness Smithfield and Bartholomew; we see the Inquisition with its countless instruments of fiendish torture; we see the Auto-de-fe, - where heretics clad in mockery, are led to torture and to death; we seen men stretched upon the rack, disjointed, and torn limb from limb; we see them flayed alive – their bleeding bodiesseared red-hot irons; we see live men covered with pitch and set on fire; we see them hurled headlong from towers to the street; we see them buried alive; we see them hanged and quartered; we see their eyes bored out with heated augers – their tongues torn out – their bones broken – their bodies’ pierced with a thousand needles; we see aged women tied to the heels of fiery steeds and on and on were millions tortured by every fiendish device that cankered minds of religious fanatics could devise. They had authority direct from God for all of it right there in their Bibles. Yes, this is what the church brought upon the world; instead of the peace and brotherhood of the gospel of love. It has made Chirstianity the bloodiest religion that ever darkened the face of the earth. In the last century 90% of all the wars have been Christian wars with Christians slaughtering Christians or someone else. All of the hellish war marchines: atomic bombs, poison ‘gas war planes, etc. , have been Christian inventions, made and used by Christian nations. In every war there have been preachers priests and rabbis on each side praying and urging on the slaugher just as old brutal Jehovah did for the Israelites while the were massacreing the people of the promised land, to take their homes, their stock and their daugthers)…. (The Nazis killed the Jews just because of things their ancestors did in Germany 50 or 100 years before. Was that right? No, but it was ten times more right than to punish people for what and ancestor, Adam, did 6,000 years ago. The Nazi brutes herded the Jews into chambers and snuffed their lives out within a few minutes. The Bible God is pledged to put people into a lake of fire and not let them die but keep them there in agony forever. That is 10,000 times worse than the Nazis ever were. Had the early Christians been allowed to go on promoting the gospel of love the tyrannical, aggressive nature of the people of the West would have been allayed and most of the bloodshed and misery we have mentioned would have been avoided. We can see this by observing the effects of the gospel of love on the peoples of the East. The early history of India was as bloody as any country, says the Britanica but after the gospel of love was brought to them their whole nature was changed, and they became peaceloving and kind to all creatures. King Asoka was a victorious war lord whose armies had never known defeat but when the gospel of love was presented to him he laid down his sword and did all of his conquering after that by love and friendship. He spent the rest of his live in spreading that message). 3. Và sau cùng là một đoạn trong bài “Những Lời Châu Ngọc về Thánh Kinh” (Gems Concerning the Holy Bible) của Robert G. Ingersoll trong cuốn “Ingersoll: Con Người Kỳ Diệu” (“Ingersoll, the Magnificient” Edited by Joseph Lewis, AA Press, Austin, Texas, 1985, trg. 59-60). Ingersoll là một đại tá, một chính trị gia, một diễn giả, một nhà hùng biện, và nhất là một nhà tư tưởng tự do (Freethinker) lỗi lạc của Mỹ vào cuối thế kỷ 19. Ông có tên trong lịch sử Hoa Kỳ, trong Tự Điển, trong Bách Khoa Tự Điển, trong Tự Điển điện tử (CD-Rom, Grolier Electronic Publishing, 1996) và những tác phẩm của ông có trong mọi thư viện ở Hoa Kỳ. Đoạn trích dẫn sau đây chỉ là chưa đầy hai trang trong số 27 trang của bài “thuyết giảng” tuyệt vời về Thánh Kinh: “Một người nào đó phải nói lên sự thực về cuốn Thánh Kinh. Những nhà giảng đạo không dám vì họ sẽ bị đuổi khỏi các bục giảng. Những giáo sư đại học không dám, vì họ sẽ mất nồi cơm. Các chính trị gia không dám. Họ sẽ bị đánh bại. Các chủ bút không dám. Họ sẽ mất độc giả. Các nhà thương mại không dám, vì họ có thể mất khách hàng. Ngay cả những công chức thường cũng không dám, vì họ có thể bị đuổi. Vậy thì tôi nghĩ chính tôi sẽ phải làm việc này. Có nhiều triệu người tin rằng Thánh Kinh là lời mặc khải của Thượng Đế - nhiều triệu người nghĩ rằng cuốn sách này là cây gậy dẫn đường, là nguồn cố vấn và nguồn an ủi, rằng nó chứa đầy hòa bình trong hiện tại, hi vọng trong tương lai - nhiều triệu người tin rằng đó là suối nguồn của luật pháp, công lý và tình thương và nhờ có những giáo lý thông thái và tốt lành mà thế giới có được tự do, của cải và văn minh - nhiều triệu người tưởng tượng rằng cuốn sách này là sự mặc khải từ trí tuệ và lòng thương yêu của Thượng Đế đến với tâm thức con người - nhiều triệu người coi cuốn sách này như là ngọn đuốc chinh phục được sự tối tăm của chết chóc, và tỏa ánh sáng trên một thế giới khác - một thế giới không có nước mắt. Họ quên đi cái sự ngu tối và man rợ, sự thù ghét tự do, sự tàn sát tôn giáo ở trong Thánh Kinh; họ nhớ tới thiên đường, nhưng quên đi những tòa hình ngục và sự đau khổ vĩnh viễn. Họ quên rằng cuốn sách này giam hãm đầu óc con người và làm cho lòng người đồi bại. Họ quên rằng cuốn sách này là kẻ thù của tự do trí thức. Các Linh mục, mục sư phân vân là làm sao tôi lại có thể tồi tệ đến độ công kích cuốn Thánh kinh. Tôi sẽ nói cho họ biết: Cuốn sách này, cuốn Thánh Kinh, đã truy tố cho đến chết những người thông thái nhất và tốt nhất. Cuốn sách này đã đầu độc những nguồn kiến thức và lạc dẫn năng lực của con người. Cuốn sách này là kẻ thù của tự do, là cột chống của chế độ nô lệ. Cuốn sách này đã gieo những hạt giống thù hận trong gia đình và quốc gia, nhúm ngọn lựa chiến tranh, và làm cho thế giới nghèo khổ. Cuốn sách này là công sự của hôn quân bạo chúa – là chủ nhân của các nô lệ phụ nữ và trẻ em. Cuốn sách này đã làm đồi bại nghị viện và triều chính. Cuốn sách này đã biến các trường đại học thành thầy dạy của sự sai trái và kẻ thù ghét khoa học. Cuốn sách này chất đầy những nước theo KiTô giáo với những tông phái thù hận, độc ác, ngu tối, chém giết lẫn nhau. Cuốn sách này dạy con người giết đồng loại vì tôn giáo. Cuốn sách này đã lập nên Toà Hình án xử dị giáo, phát minh ra những hình cụ tra tấn, thiết lập những nhà hình ngục trong đó thiện nhân và từ nhân mai một dần, rèn những chuỗi xích trở thành dỉ xét trong da thịt họ, dựng lên những đoạn đầu đài để chặt đầu họ. Cuốn sách này đã xếp những đống củi dưới chân của người lành. Cuốn sách này đã trục lý trí ra khỏi đầu óc của nhiều triệu người và đưa những kẻ khùng vào đầy nhà thương điên. Cuốn sách này đã gây nên cảnh cha mẹ làm đổ máu những trẻ sơ sinh. Cuốn sách này đã là trường bán đấu giá trên đó người mẹ nô lệ đứng khi được bán đi, phải chia lìa đứa con. Cuốn sách này chứa đầy thuyền kẻ buôn nô lệ và làm da thịt con người thành món hàng hóa. Cuốn sách này đã nhúm lửa thiêu sống những “mụ phù thủy” và những “thầy pháp”. Cuốn sách này chứa đầy tối tăm với những quỷ và ma, và thân thể con người với những điều ác. Cuốn sách này đã làm ô nhiễm linh hồn con người với giáo điều xấu xa về hình phạt đầy đọa vĩnh viễn. Cuốn sách này coi sự cả tin như là đức tính cao nhất, và sự tìm tòi khảo sát như là tội ác lớn nhất. Cuốn sách này đã đặt kẻ ngu dốt và những vị Thánh nhơ bẩn lên trên triết gia và người nhân đức. Cuốn sách này dạy con người coi thường những niềm vui của đời sống này, để có thể sung sướng ở đời sau - bỏ phí thế giới này vì thế giới sau. Tôi công kích cuốn sách này vì nó là kẻ thù của sự tự do của con người – là sự cản trở lớn nhất của sự tiến bộ của con người. Tôi xin hỏi các linh mục, mục sư một câu: làm sao mà các ông có thể tồi tệ đến mức bào chữa cho cuốn sách này. Cuốn Thánh Kinh đã là thành trì chống đỡ của hầu hết các tội ác. Suốt cuốn Thánh Kinh mở ra là nói về thanh gươm (để giết người) và bó củi (để thiêu sống người). Chúng ta hãy thoát ra khỏi sự tàn bạo của một cuốn sách, nô lệ của sự ngu tối cùng cực, cái không khí quý tộc thống trị. Cựu Ước mô tả địa ngục của quá khứ, và Tân Ước, địa ngục của tương lai. Cựu Ước cho chúng ta biết những sự khủng khiếp mà Thượng Đế đã làm, Tân Ước, những sự khủng khiếp mà Thượng Đế sẽ làm. Hai cuốn sách này mang tới cho chúng ta những sự đau khổ trong quá khứ và trong tương lai - sự bất công, sự hấp hối và nước mắt của cả hai thế giới”. (Someone ought to tell the truth about the Bible. The preachers dare not, because they would be driven from their pulpits. Professors in college dare not, because they would lose their salaries. Politician dare not. They would be defeated. Editors dare not. They would lose subscribers. Merchants dare not, because they might lose customers. Even clerks dare not, because they might be discharged. And so I thought I would do it myself. There are many millions of people who believe the Bible to be the inspired word of God – millions who think that this book is staff and guide, counselor and consoler; that it fills the present with peace and the future with hope – millions who believe that it is the fountain of law, justice and mercty, and that to its wise and begin teachings the world is indebted for its liberty, wealth and civilization – millions who imagine that this book is a revelation from the wisdom and love of God to the brain and heart of man – millions who regard this book as torch that conquers the darkness of death, and pours its radiance on another world – a world without a tear. They forget its ingnorance and savagery, its hatred of liberty, its religious persecution; they remember the heaven, but they forget the dungeon of eternal pain. They forget that it imprisons the brain and corrupts the heart. They forget that it is the enemy of intellectual freedom. Ministers wonder how I can be wicked enough to attack the bible. I will tell them: This book, the Bible, has persecuted, even unto death, the wisest and the best. This book stayed and stopped the onward movement of the human race. This book poisoned the fountains of learning and misdirected the energies of man. This book is the enemy of freedom, the support of slavery. This book sowed the seeds of hatred in families and nations, fed the flames of war, and impoverished the world. This book is the breastwork of kings and tyrants – the enslaver of women and children. This book has corrupted parliaments and courts. This book has made colleges and universities the teachers of error and the haters of science. This book as filled Christendom with hateful, cruel, ignorant and warring sects. This book taught men to kill their fellows for religions’s sake. This book founded the Inquisition, invented the instruments of torture, built the dungeons in which the good and loving languished, forged the chains that rusted in their flesh, erected the scaffolds whereon they died. This book piled fagots about the feet of the just. This book drove reason from the minds of millions and filled the asylums with the insane. This book has caused fathers and mothers to shed the blood of their babes. This book was the auction block on which the slave-mother stood when she was sold from her child. This book filled the sails of the slave trader and made merchandise of human flesh. This book lighted the fires that burned “witches” and “wizards”. This book filled the darkness with ghouls and ghosts, and the bodies of men and women with devils. This book polluted the souls of men with the infamous dogma of eternal pain. This book made credulity the greatest of virtues and investigation the greatest of crimes. This book filled nations with hermits, monks and nuns – with the pious and the useless. This book placed the ignorant and unclean saint above the philosopher and philanthropist. This book taught man to despise the joys of this life, that he might be happy in another – to waste this world for the sake of the next. I attack this book because it is the enemy of human liberty – the greatest obstruction across the highway of hman progress. The Bible has been the fortress and defence of nearly every crime. Across the open Bible lay the sword and fagot. Let us free ourselves from the tyranny of a book, from the slavery of dead ignorance, from the aristocracy of the air. The Old Testament filled this world with tyranny and injustice, and the New gives us a future filled with pain for nearly all of the sons of men. The Old Testament describes the hell of the past, and the New the hell of the future. The Old Testament tell us the frightful things that god has done, the New the frightful things that he will do. These two books give us the sufferings of the past and the future-the injustice, the agony and the tears of both worlds). Tôi hi vọng, với cái lịch sử GiaTô giáo đã được kể sơ lược ở trên, và với những nhận định về cuốn Thánh Kinh vừa qua, chúng ta đã có thể có một cái nhìn toàn bộ về GiaTô giáo. Từ đó, với lương tâm của một con người Việt Nam đúng nghĩa là một con người, chúng ta hãy xét xem cuốn Thánh Kinh có thể là một “Cẩm nang để phục hưng con người và đạo lý ở Việt Nam” hay không? Có thể có người, nhất là các tín đồ GiaTô giáo, không tin những tài liệu trên là đúng. Tôi khuyên họ hãy mở cuốn Thánh Kinh ra đọc từ dòng đầu tới dòng cuối, rồi đọc lại lịch sử GiaTô La Mã giáo trên hoàn cầu, họ sẽ thấy ngay sự tương quan giữa những điều dạy trong Thánh Kinh và hành động của giáo hội Gia Tô. Họ sẽ thấy ngay là những hành động của giáo hội GiaTô trong suốt 20 thế kỷ nay là bắt nguồn từ những giáo lý trong Thánh kinh chứ không phải là do một vài giáo hoàng, như lời biện hộ gần đây của một đại trí thức GiaTô Việt Nam, bị cái “chước cám dỗ làm điều thiện”. Bản chất các giáo lý đã không thiện rồi và chính những giáo lý không thiện này đã đưa đến những hành động bất thiện. Khi đó họ có thể phối kiểm những điều mà những tác giả kể trên đã viết về Thánh kinh và sẽ thấy họ không có viết sai sự thực, dù bản Thánh Kinh bằng tiếng Việt đã được lược bớt một số mâu thuẫn và những đoạn “không thể đọc được” so với bản tiếng Anh, King James. Tôi cũng cần phải ghi ở đây là những tài liệu dẫn chứng trong bài viết này chẳng qua chỉ là một phần rất nhỏ của toàn bộ những tài liệu đã được xuất bản về lịch sử GiaTô giáo và Thánh kinh GiaTô, và trong phần tài liệu tham khảo ở cuối bài tôi cũng chỉ đưa ra một số tài liệu chọn lọc mà thôi. Tôi chắc cũng sẽ có người đưa ra luận cứ như sau: “Đó là chuyện xưa rồi, nhắc lại làm chi. Hiện nay Giáo hội GiaTô đã văn minh, đâu có giết người, đâu có làm gì xấu ác, chưa kể là giáo hội đã tham gia vào bao nhiêu việc thiện ở trên thế giới v. v. . ”. Tôi đồng ý là giáo hội ngày nay không còn giết người như trong các cuộc Thánh chiến và các tòa hình án xử dị giáo. Nhưng cái tinh thần Thánh chiến và tòa hình án vẫn không thay đổi là bao nhiêu, trong chính giáo hội mẹ, và trong những giáo hội con với sự đồng ý của giáo hội mẹ. Thực ra thì qua bao thế kỷ nhân loại đã văn minh hóa GiaTô giáo nên giáo hội không còn quyền lực và khả năng để giết người bừa bãi như trước nữa. Nhưng những việc làm của giáo hội cho tới ngày nay vẫn không sáng sủa chút nào, và những việc này càng ngày càng được phơi bày ra ánh sáng. Chúng ta hãy đọc vài sự kiện trong lịch sử thế giới cận đại (Joseph L. Daleiden, Sđd, trg. 61-62): “Những cố gắng dập tắt mọi sự chống đối các giáo hoàng và cái điều ám ảnh họ về sự duy trì quyền thống trị của giáo hội GiaTô vẫn tiếp tục qua các thời đại. Tuy nhiên, trong thế kỷ này, nó có tính chất của một hành động bảo toàn lực lượng mà giáo hội dùng để bảo vệ cái quyền lực đang suy giảm của mình bằng cách liên minh với bất cứ ai mà có lợi. Sự hợp tác của các giáo hoàng với những chính quyền phát xít ở Âu Châu và Nam Mỹ cho thấy những biện pháp cực đoan ô nhục mà các giáo hoàng dùng để bảo tồn địa vị của họ. Giáo hội chống cuộc chiến đấu giành độc lập của Mễ Tây Cơ và tuyệt thông các lãnh tụ của họ. Sau đó giáo hội chống lại sự thành lập hệ thống cộng hòa liên bang và phản đối mạnh mẽ nguyên tắc tự do tín ngưỡng trong hiến pháp Mễ Tây Cơ. Năm 1930 chính quyền hợp hiến ở Á Căn Đình bị lật đổ và một chế độ độc tài phát xít được thiết lập với tình trạng thiết quân luật. Vì chế độ mới tuyên bố trung thành với GiaTô giáo, họ được giáo hội ủng hộ mau chóng. Năm 1936 giáo hoàng nồng nhiệt liên minh với nhà độc tài phát xít Francisco Franco ở Tân Ban Nha trong nỗ lực dẹp quân phiến loạn Tây Ban Nha. Franco thưởng lại bằng cách thiết lập giáo hội GiaTô làm quốc giáo (Quyền lợi này bị bải bỏ khi nhà độc tài Franco chết và một hiến pháp dân chủ được chấp thuận năm 1978). Tuy nhiên, sự liên minh với Franco chỉ là một chuyện ngoài lề trong vai trò mà giáo hội sẽ đóng trong sự khởi dậy và củng cố quyền lực của Hitler và Mussolini, một vai trò mà các giáo hoàng đều muốn chúng ta đều quên đi. Giáo hoàng Pius XI ký một thoả ước và hiệp định Lateran với Mussolini năm 1929, và gọi Mussolini là “người Thượng Đế gửi xuống”. Bốn năm sau, đại sứ của giáo hoàng là Pacelli, sau trở thành giáo hoàng Pius XII, thúc giục đảng GiaTô bỏ phiếu cho Hitler trong cuộc bầu cử sau cùng, trước khi đảng Đức quốc xã lên cầm quyền. Đối với Giáo hoàng thì bất cứ những sự tàn bạo nào của một chính quyền đối với nhân loại cũng không thành vấn đề chừng nào mà chính quyền đó đủ khôn ngoan để cho giáo hoàng giữ được quyền lực. Khi Ante Pavelich dựng lên một quốc gia GiaTô Croatia và giết hại 600,000 người, hầu hết là những người thuộc Chính Thống giáo chống đối sự thống trị của Pavelich, thì Giáo hội GiaTô câm lặng”. (The effort to stamp or any opposition to the popes and their obsession with maintaining the rule of the Catholic Church had continued down through the ages. In this century, however, it has been more of a rear guard action, with the Church seeking to protect its dwindling authority by making alliances with whoever would serve its interests. The collaboration of the popes with fascist governments in Europe and South America shows the shameful extremes the popes have been willing to go to, to preserve their position. The Church opposed the Mexican war of independence and excommunicated its leaders. Later the Church fought the establishment of the federal republic system and vigorously protested the inclusion of the principle of religious freedom in the Mexican constitution. In 1930 the constitutional government was toppled in Argentina and a fascist dictatorship established, complete with martial law. Since the new regime proclaimed its allegiance to Catholicism, it was quickly supported by the Church. In 1936 the pope was eager to ally himself with Spain’s fascist dictator Francisco Franco in his effort to squash the Spanish rebellion. As its reward the Catholic Church was established as the state religion. (With the approval of a democratic constitution in 1978 after the dictator’s death the Church lost this privilege). The Franco deal, however, was merely an aside to the role the Church would play in the rise of consolidation of power of Hitler and Mussolini, a role the popes would like us all to forget. Pope Pius XI signed a concordat and the Lateran Treaty with Mussolini in 1929, and called him “the man sent by Providence”. Four years later, Papal Nuncio Monsignor Pacelli, who was soon to become Pius XII, urged the Catholic Party to vote for Hitler in the last German election prior to the Nazi takeover. It made no difference what atrocities a government committed against humankind as long as it was shrewd enough to let the pope retain his titular authority. When Ante Palevich set up the Catholic state of Croatia and slaughtered 600,000 persons, primarily those belonging to the Orthodox Church who opposed his rule, the Catholic Church was mute). Và sau đây là một đoạn liên quan đến vai trò của giáo hội trong lịch sử Việt Nam cận đại: Spellman là người chủ chốt của giáo hoàng làm cho Mỹ tham chiến sâu đậm ở Việt Nam. Theo một bức thư chính thức của Vatican, giáo hoàng “dùng Spellman để khuyến khích Mỹ tham chiến ở Việt Nam”. Mọi viện trợ nhân đạo cho miền Nam đều đi qua các cơ sở của giáo hội GiaTô và chỉ có những người GiaTô là được Diệm bổ nhiệm vào trong chính phủ. Tuy rằng những chính sách như vậy đưa đến việc cải tạo hàng loạt, số tín đồ GiaTô chỉ chiếm vào khoảng từ 12 tới 13 phần trăm của dân số miền Nam. Không lạ lùng gì mà khối đa số Phật Giáo bất bình đưa đến việc công khai chống đối chính sách của Diệm. Tình trạng ngày càng suy kém, Diệm đã dùng đến biện pháp bắt giữ hàng loạt, đàn áp Phật tử, đóng cửa chùa chiền và tu viện. Qua kinh nghiệm quá khứ, Giáo hội chắc hẳn đã biết rằng sự đàn áp chỉ làm cho lý tưởng mạnh hơn. Trước sự quan sát kinh hoàng của thế giới, giới Phật tử đã phải dùng tới hành động chống đối tiêu cực rốt ráo và nhiều tăng sĩ đã tự thiêu. Trong những khoảng thời gian đáng sợ đó, tôi, một tín đồ GiaTô, không nhớ có một lời chỉ trích chính sách của Diệm từ một linh mục hay giám mục GiaTô nào. Tuy nhiên, sự việc đã lên quá mức đối với TổngThống John Kennedy, ông ta thôi không ủng hộ Diệm nữa. Ít lâu sau đó Diệm bị hành quyết trong một cuộc lật đổ chính quyền. Qua cái diễn tiến kinh khủng này, vai trò của giáo hội đã theo đúng cái tiến trình lịch sử nhơ nhớp của giáo hội”. (Spellman was the papal point man to lead America into deeper involvement in Vietnam. According to a Vatican official letter, the pope “turned to Spellman to encourage American commitment to Vietnam”. All US relief to the South was funneled through the Catholic Church’s agencies and only Catholics were appointed to government positions by Diem. Although these policies resulted in a wave of conversions. Catholics still made up only about 12 to 13 percent of the South Vietnamese population. Not surprisingly, the resentment among the Buddhist majority soon resulted in their open resistance to Diem’s policies. As the situation deteriorated, Diem resorted to mass arrests and suppression of the Buddhists, closing shrines and monateries. As the Church should have known from its own early experience, persecution can only strengthen a cause. As a horrified world watched, the Buddhists resorted to the ultimate act of passive resistance and several monks set themselves ablaze. During these terrible times, when I, too, was a Catholic, I don’t recall one word of criticism of Diem’s policies from a Catholic priest or bishop. However, it finally became too much for President John Kennedy, who withdrew US support for Diem. Diem was soon executed in a coup. Throughout this dreadful ordeal the role of the Church followed true to the course of its sordid history). Trên đây là những sự kiện lịch sử không thể phản bác về lịch sử giáo hội GiaTô từ ngày đầu cho tới ngày nay, để cho công bằng chúng ta cũng phải xét đến mặt tích cực đóng góp cho nhân loại của giáo hội mà giáo hội vẫn thường quảng bá qua những phương tiện truyền thông và sách lược tuyên truyền tinh vi nhất. Tôi sẽ luận về những điểm này trong phần tới : “Phật Giáo với nhiệm vụ gìn giữ và phát huy nền văn hóa dân tộc”.
|


