Home Lịch Sử Phật Giáo Phật và Thánh Chúng Phật và thánh chúng T. Minh Tuệ
28 | 08 | 2008
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Bookmarks
 
 
 
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật Giáo và Đời Sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Phật và thánh chúng T. Minh Tuệ PDF. In Email
Lịch Sử Phật Giáo
Viết bởi Thích Minh Tuệ   
Chỉ mục bài viết
Phật và thánh chúng T. Minh Tuệ
Phật và Thánh Chúng Ph. A.4-
Phật và Thánh Chúng Ph. B.1-
Phật và Thánh Chúng Ph. B.4-
Phật và Thánh Chúng Ph. B.8-
Phật và Thánh Chúng Ph. C.1-
Tất cả các trang
Trước và trong thời kỳ Ðức Phật ra đời, Ấn Ðộ có đến những 96 đạo giáo. Từ đó, tư tưởng cũng rất đa dạng.

Tình trạng chính trị xã hội, kinh tế và tư tưởng Tôn giáo Ấn Ðộ vào thời Ðức Phật hoàn toàn bế tắc. Chính trị xã hội bất công, đối kháng lên đến cực điểm. Giai cấp Phệ xá và Thủ đà la sống trong uất hận, xem trần gian như một Địa ngục, tư tưởng Tôn giáo phức tạp, quần chúng không còn niềm tin.

Chưa tìm hiểu sâu vào cuộc đời của Ðức Phật, chỉ lướt qua bối cảnh thời đại và xã hội, tư tưởng Tôn giáo Ấn Ðộ và danh hiệu của Phật, chúng ta thấy Phật là một biểu tượng chói sáng đức tính Từ bi, Trí tuệ, Dũng mãnh, Bình đẳng, Giải thoát...

Phật đã từ bỏ giai cấp quyền quí đã thực hiện cuộc cách mạng xã hội. Phật không chấp nhận xã hội có phân chia giai cấp, vì Phật và chúng sanh đều bình đẳng. (Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành). Từ đó về sau, khi thành lập Giáo hội, chúng đệ tử không bị phân biệt là giai cấp quyền quí hay thứ dân cùng đinh. Phật là một nhà tư tưởng hướng về thực tế xã hội, nhằm cải thiện con người là trên hết.

Phật Và Thánh Chúng

Thích Minh Tuệ biên soạn

Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh. Ấn hành. PL. PL. 2538 – DL. 1994

Mục Lục

A/ Phần Một. Lược Sử Phật Thích Ca.

Bài 1: Bối Cảnh Thời Ðại Và Danh Hiệu Của Ðức Phật.

Bài 2: Thái Tử Tất Ðạt Ða.

Bài 3: Thái Tử Tất Ðạt Ða Xuất Gia

Bài 4: Thái Tử Ðạt Ða Tu Hành Và Thành Đạo

Bài 5: Ðức Phật Giáo Hóa (1)

Bài 6: Ðức Phật Giáo Hóa (2)

Bài 7: Ðức Phật Giáo Hóa (3)

Bài 8: Ðức Phật Niết Bàn

B/ Phần Hai. Lược Sử Mười Đại Đệ Tử

Lời Nói Đầu.

Bài 1: Ngài Xá Lợi Phất

Bài 2: Ðức Mục Kiền Liên

Bài 3: Ngài Phú Lâu Na

Bài 4: Ngài Tu Bồ Ðề

Bài 5: Ngài Ca Chiên Diên

Bài 6: Ngài Ðại Ca Diếp

Bài 7: Ngài A Na Luật

Bài 8: Ngài Ưu Ba Ly

Bài 9: Ngài A Nan Ða

Bài 10: Ngài La Hầu La

C/ Phần Phụ Lục: Những Đệ Tử Đặc Thù Của Phật

I. Bốn Chúng Đại Đệ Tử

II. Những Đệ Tử Đặc Thù Của Phật

1. Chu Ly Bàn Ðà Già

2. Kiều Trần Như

3. Ưu Lần Tần Loa Ca Diếp

4. Văn Nhị Bách Ức

5. Ma Ha Bà Xà Ba Ðề

6. Liên Hoa Sắc

7. Cư Sĩ Tu Ðạt

8. Ưu Ðà Di Tỳ Xá Khư

Sách Tham Khảo

Lời Giới Thiệu

Trong lịch sử Tôn giáo, Ðạo Phật cũng gọi là một Tôn giáo nhưng không nặng về siêu hình. Khi Mang Ðồng Tử (Maluntajaputra) hỏi Phật thế giới thường hay Vô thường, hữu biên hay vô biên..., Phật cho là chuyện viễn vông, không ích lợi thiết thực gì cho con người. Theo Phật, điều quan trọng là con người phải nhìn vào thực tế, Giải thoát khỏi kiếp sống, già, bệnh, chết, ưu, bi, khổ não... và gần hơn mà trọng hơn cả là san bằng các nổi bất công của xã hội, để con người được sống an bình, hạnh phúc.

Khi gặp người bị tên độc, điều cần thiết là rút tên độc, và băng bó vết thương để nạn nhân khỏi chết là chính, chứ cứ đi hỏi nguyên nhân này nọ là điều vô ích. Ðó cũng chính là nguyên nhân mà Phật từ bỏ lạc thú trần gian để xuất gia tìm đạo. Bởi thế, đạo Phật là đạo của con người, khi xã hội con người còn tràn đầy bất công, vữa nát nhiều mặt... và khi con người chưa tìm lại được bản lai diện mục của chính mình, để cứ bị cuộc đời lôi cuốn mà tha hóa.

Mặt khác, trong lịch sử nhân loại chưa có ai đang ở trên quyền cao chức trọng, phú quí vinh hoa mà dám từ bỏ để làm nhà Đạo sĩ như Phật Thích Ca, vì Giác ngộ và Giải thoát cho nhân quần, xã hội chúng sinh. Bởi thế, theo cái nhìn có vẻ chủ quan của chúng tôi, trước khi tìm hiểu giáo lý đạo Phật, chúng ta cần tìm hiểu cuộc đời của Phật và một số đệ tử hàng đầu của Phật. Ðó là lý do mà cũng là do sự phân công của hàng giáo phẩm, chúng tôi biên soạn một cách đại lược tài liệu học tập này với tựa đề là PHẬT VÀ THÁNH CHÚNG để giảng dạy tại Trương Cơ bản Phật học và bước đầu cho Tăng Ni tập trung an cư trong các trường hạ ở các tự viện.

Nội dung trong tập này có 3 phần:

- Phần một, lược sử Phật Thích Ca.

- Phần hai, Thánh chúng hay cụ thể hơn là 10 đại đệ tử của Phật.

- Phần ba, Phụ lục về 4 chúng đệ tử và 8 đệ tử thuộc hàng đặc thù của Phật.

Về tư liệu cũng như khả năng và thời gian biên soạn có nhiều hạn chế, tập tài liệu học tập này còn nhiều thiếu sót, chưa đạt yêu cầu. Kính mong chư Tôn giáo phẩm, quí Phật tử xa gần niệm tình thứ xả và chỉ giáo cho. Chúng tôi cũng kính tri ân quí vị đã nhiệt tình giúp đỡ nhiều mặt để tập Phật và Thánh chúng được ấn hành.

Phật Ðản 2533 - 1989

A. Phần Một: Lược Sử Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

Lời Mở Ðầu

Khi nghiên cứu tìm hiểu một học thuyết, một đạo giáo hay một tác phẩm văn học nào, theo thông lệ, trước hết người nghiên cứu phải lược duyệt cuộc đời và sự nghiệp vị giáo chủ hoặc tác giả của tác phẩm. Cũng thế, khi tìm học giáo pháp của Phật giáo, trước hết và cơ bản chúng ta cần hiểu lược sử của Phật THÍCH CA MÂU NI.

Bối cảnh xã hội, tư tưởng Tôn giáo Ấn Ðộ trước Tây lịch khoảng 700 năm thật vữa nát. Bấy giờ dân Ấn Ðộ đòi hỏi phải có một vĩ nhân để thổi cho xã hội và tư tưởng Tôn giáo, một luồng gió mới. Ðức Phật THÍCH CA MÂU NI ra đời đúng vào thời đại đó. Ở thời thơ ấu, Phật tên là TẤT ÐẠT ÐA, con vua TỊNH PHẠN nước Ca Tỳ La Vệ. Tuy sống trong phú quí vinh hoa, Thái tử vẫn không thỏa mãn, vì xã hội có giai cấp, tư tưởng Tôn giáo mang tính thần quyền. Do đó, Thái tử đã xuất gia.

Với con đường Trung đạo, tại gốc Bồ Ðề, sau 49 ngày đêm nhập định, Thái tử đã Giác ngộ, thành Phật hiệu là THÍCH CA MÂU NI. Sau khi thành đạo, suốt 45 năm, Phật đã đi khắp đó đây để truyền đạo Từ bi và Trí tuệ một cách tận tình và rộng rãi. Năm 80 tuổi khi công hạnh đã viên mãn, dưới ánh trăng tỏa rạng, tại rừng Sa La, giữa hai cây song thọ, Phật vào Niết bàn.

Qua lược sử Ðức Phật, trong tập tài liệu sử học cơ bản này chúng tôi chia thành 8 bài:

1. Bối cảnh thời đại và danh hiệu Ðức Phật.

2. Thái tử Tất Ðạt Ða.

3. Thái tử Tất Ðạt Ða xuất gia.

4. Thái tử Tất Ðạt Ða tu hành và thành đạo.

5. Ðức Phật giáo hóa (phần 1).

6. Ðức Phật giáo hóa (phần 2).

7. Ðức Phật giáo hóa (phần 3).

8. Phật Niết bàn.

Khi lược kể cuộc đời Ðức Phật, chúng tôi đặt nặng vấn đề nhận thức. Do đó, ở cuối mỗi bài đều có nêu một số nhận thức của cá nhân chúng tôi. Với những nhận thức có tính chủ quan đó có thể có nhiều sai sót, chúng tôi kính mong các bậc cao minh chỉ giáo.

Thành kính tri ân quí vị đã giúp chúng tôi hình thành phần LƯỢC SỬ PHẬT THÍCH CA MÂU NI này, qua mọi phương diện.

THÍCH MINH TUỆ

Phật Ðản 2532/1988.

Bài 1: Bối Cảnh Thời Ðại Và Danh Hiệu Của Ðức Phật.

Vào cuối thế kỷ 20 văn minh của nhân loại đang độ tiến lên cao điểm. Khoa học đã bay theo hỏa tiễn chinh phục vũ trụ. Với đà tiến của khoa học hiện đại, trong tương lai gần, con người có thể vượt không gian đến sinh sống ở nhiều tinh cầu ngoài trái đất. Viễn ảnh càng đẹp bao nhiêu thì thực tại con người càng còn nhiều lo âu bấy nhiêu. Bởi vũ khí hạt nhân, hóa học, chiến tranh tinh cầu cũng dễ dàng hủy diệt mọi văn minh tiến bộ khoa học, kể cả sinh mệnh nhân loại. Con người càng kêu gọi hủy bỏ vũ khí hạt nhân để đem lại hòa bình thì chính con người cũng đang chuẩn bị chiến tranh. Thực tế mâu thuẫn đó, chủ yếu là do con người chạy đua theo các cuộc chiến thắng ngoại tại mà quên chiến thắng nội tại. Theo Ðạo Phật, tự nội, con người biết thắng tham sân si... các tai họa chiến tranh hạt nhân, tinh cầu sẽ hết đe dọa, hòa bình lâu dài sẽ có mãi trên địa cầu này. Cách đây hơn 2.500 năm, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã khám phá ra chân lý đó. Bởi thế, cuộc đời của Ðức Phật quả thật đáng cho chúng ta tìm hiểu, noi theo...

Trong chiều hướng tìm hiểu Ðức Phật, trước hết chúng ta hãy nhìn lại bối cảnh thời đại và danh hiệu của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, để có một thái độ sống có ích cho bản thân và gia đình xã hội.

I. Bối Cảnh Thời Ðại Ðức Phật.

1/ Tổ Chức Chính Trị, Xã Hội Và Kinh Tế Thời Ðức Phật.

Từ nguyên thủy, thời cổ đại, khoảng 3.000 năm trước Tây lịch, dân địa phương của Ấn Ðộ có 3 thành phần là nông dân, du mục và doanh thương hàng hải. Người dân sống theo chế độ mẫu hệ, như giống Mun da ở Bắc Ấn, Dravida ở bình nguyên điền dã sắc dân quy tụ thành thôn, xóm, gia tộc, tiến lên bộ tộc theo chế độ cộng hòa.

Ðến thời giống người Aryan đến chiếm lĩnh, dân tiền trú trở thành nô lệ. Giống dân Aryan da trắng, thông minh, cường tráng. Họ sống theo chế độ phụ hệ. Kể từ đó, Ấn Ðộ khởi đầu tổ chức thành các tiểu bang. Khi đã định cư, người Aryan bỏ cuộc sống du mục. Nông nghiệp và thương nghiệp được bành trướng ở vùng Ngũ Hà (Panjab). Ðể củng cố thế lực, họ soạn Luật Manu chia xã hội thành 4 giai cấp: Bà la môn, Sát đế lợi, Phệ xá và Thủ đà la.

- Bà la môn là hàng giáo sĩ giữ việc cúng tế, chiếm địa vị tối cao, cha truyền con nối. Họ tự cho là hàng Bà la môn sinh ở đầu Thượng Ðế, Sát đế lợi ở bụng, Phệ xá sinh ở tay chân, còn Thủ đà la sinh ở dưới bàn chân Thượng Ðế. Ðế Thánh hóa hàng tăng lữ, hầu dễ bề ngự trị xã hội, họ quy định cuộc đời của một Bà la môn có 4 thời kỳ:

1. Phạm tư kỳ: Từ 7 đến 11 tuổi thời gian xuất gia học kinh Veda. Sau đó được trở về nhà.

2. Gia cư kỳ: Thời tráng niên lập gia đình, sinh hoạt bình thường, lo việc tế tự của người gia trưởng.

3. Lâm cư kỳ: Sau khi hoàn thành nghĩa vụ gia đình, người trung niên lại xuất gia vào rừng tu luyện Thiền định, khổ hạnh.

4. Du hành kỳ: Thời lão niên, chuyên lo du hóa, sống đời sống khất sĩ hay hành giả, được mọi người tôn phụng.

Giai cấp Sát đế lợi: Những con người thiện xạ, cai trị mọi người, cha truyền con nối, ăn trên ngồi trước, xem đất nước là của riêng.

- Giai cấp Phệ xá: Gồm cả nông, công, thương, sống phải làm việc, có bổn phận cung phụng hai giai cấp trên. Họ bị bóc lột thậm tệ.

- Giai cấp Thủ đà la: Kẻ cùng đinh gồm các giống người tiền trú. Vì là kẻ khốn cùng trong xã hội, họ phải làm nô lệ cho giai cấp trên. Ra đường gặp 1 Bà la môn hay Sát đế lợi, họ phải chạy trốn, nếu bị thấy liền bị ăn đòn. Luật MANU còn quy định, nếu kêu tên Bà la môn phải bị cắt lưỡi, không tuân lịnh lớp người cai trị sẽ bị đổ dầu sôi vào lỗ tai.

2/ Tư Tưởng Và Tôn Giáo.

Trước và trong thời kỳ Ðức Phật ra đời, Ấn Ðộ có đến những 96 đạo giáo. Từ đó, tư tưởng cũng rất đa dạng. Họ có 4 bộ Thánh điển Veda: Lê Câu Phệ Ðà (RigVeda), Da Du Phệ Ðà (Yayyr Veda), Sa Ma Phệ Ðà (Sama Veda), A Thát Bà Phệ Ðà (Athara Veda).

Nội dung kinh Veda mang tính thần học, Phạm Thiên (Brahma) là bậc chí tôn, tạo lập vũ trụ, cai quản sinh linh. Con người từ đại ngã Brahmana sinh ra. Về sau, nếu biết tôn thờ Thượng đế, gắng sức tu khổ hạnh, con người sẽ trở về với tự ngã Atman để thể nhập với đại ngã Brahmana. Atman và Brahmana đều cùng chung một thể. Về sau còn có Áo Nghĩa Thư (Upanishad) văn cú trường mật nghĩa lý uyên bác hơn. Vào thời Ðức Phật khoảng 600 năm trước Tây lịch, tư tưởng Triết học Bà la môn không còn chiếm địa vị độc tôn. Lúc bấy giờ, những dòng tư tưởng và đạo giáo có thế lực là Lục sư ngoại đạo, 6 phái Triết học, Kỳ Na giáo, rồi Phật giáo.

a) Lục sư ngoại đạo.

1. Phái Ngẫu Nhiên - Phú Ða Ca Diếp (Purana Kassapà) sáng lập, không tin Nhân quả, khổ vui, phúc họa đều là ngẫu nhiên. Phật giáo gọi là phái vô Nhân quả. Giáo chủ phái này vốn là nô lệ sinh ở chuồng bò, sống với bò cho đến lớn. Sau bỏ qua Ðông Ấn, chủ Bà la môn cho người đuổi bắt, lột hết quần áo. Từ đó ông mãi trần truồng, phủ nhận hết điều thiện, không ân cũng chẳng oán.

2. Phái Tự Nhiên: Mạt già Lê Câu Xá Lợi (Makphali Nosala) sáng lập, cho khổ vui, họa phước đều là tự nhiên mà có, không do nguyên nhân nào khác. Phật giáo gọi là Tà Mệnh ngoại đạo.

Giáo chủ này nhân đi hành hương, gặp trời mưa vào núp ở chuồng bò, bà vợ sanh Nosala thì trời hết mưa, quang đãng. Vì thế khi trở thành giáo chủ, Nosala tuân hành qui luật an bài tự nhiên, con người phải phụng hành. Theo phái này sinh vật do 12 yếu tố vừa vô hình vừa hữu hình tạo nên. Ðó là linh hồn, đất, nước, gió, lửa, hư không, điều được, điều mất, điều khổ, điều vui, luật sinh và luật tử. 12 nhân duyên như cuộn chỉ. Nếu cuộn chỉ bung ra là hết tội. Việc ném cuộn chỉ, sợi chỉ rối, đứt là mệnh con người được Giải thoát.

3. Phái Duy Vật Khoái Lạc: A Di Ta Thúy Xá khâm Bà La (Ajitakesa Kambali) sáng lập. Chủ trương: Con người do địa, thủy, hỏa, phong hợp thành. Chết là hết. Bởi thế con người tự do hưởng lạc, đối lập với phái khổ hạnh, dùng vải có thêu bằng tóc làm cà sa. Phật giáo gọi phái này là Thuận Thế Ngoại Ðạo.

4. Phái Sinh Mệnh và Vật Chất Thường Còn: Bà Phù Ðà Ca Chiên Diên (Pakudha Katy ayana) sáng lập, cho vạn vật do 7 yếu tố hợp thành. Ðó là: Ðất, nước, gió, lửa, khổ, vui và sinh mệnh. Sinh tử luân hồi điều do 7 yếu tố này tụ hay tán mà thành. Nhưng 7 yếu tố lại thường còn bất diệt.

5. Phái Hoài Nghi - Tán Nha Gia Tỳ Lệ Tử (Sanjava Bahatthpiutta) lập, cho chân lý có thể biến đổi, tu đạo là vô ích, cần chuyên tu Thiền định là được. Ðây là bất khả tư nghị luận. Lời giáo chủ nói: Kìa như con bướm sờ sờ ra đó, nắm được nó, rồi nó cũng chuồn đi mất, huống những điều nắm không được, nhìn không thấy thì căn cứ vào đâu mà quyết đoán.

6. Phái Khổ Hạnh: Ni Kiền Ðà Nhã Ðế Tử (Nlgantha- Nàtadatta) lập, cho khổ, vui, họa, phúc đều do nghiệp tiền định. Con người cần ép xác, khổ hạnh mới mong Giải thoát được tiền nghiệp.

b) Sáu phái Triết học.

1. Số luận (Samkhya) Triết thuyết là nhị nguyên luận, dung hòa giữa tinh thần và vật chất. Tinh thần rất linh hoạt tự tại, kết hợp với vật chất để hình thành sinh vật. Tinh thần hay linh hồn luôn luôn bất động, còn vật chất thì biến động. Cả hai kết hợp với nhau theo ba nguyên chất, gọi là 3 đức: Hỷ, Ưu và Ám.

2. Thắng luận (Vaisesika): Chủ trương (âm thanh thường còn). Duy vật đa nguyên, chống lại hữu thần luận. Vũ trụ tạo thành bởi sáu nguyên lý hay sáu cú nghĩa: Thục, đức, nghiệp, đồng, dị và hòa hiệp. Con người phải tự chế ý dục theo pháp Yoga mới được Giải thoát.

3. Chính lý luận (Nyàya) còn gọi là nhân minh luận. Triết lý đa nguyên phản đối thuyết "thanh thường còn". Cho âm thanh là Vô thường. Con người đầy khổ não, nguyên nhân do nghiệp. Cần diệt nghiệp để Giải thoát. Phái này chuyên về lý luận giống luận lí học phương Tây, chỉ khác là Tây phương chia ra ba giai đoạn gọi là Tam đoạn Luận. Còn phái này có đến 5 giai đoạn:

- TÔN: Âm thanh là Vô thường.

- NHÂN: Vì có sanh ra.

- DỤ: Như các vật thể, cái bàn chẳng hạn.

- HỢP: Cái gì có sinh tất có diệt

- KẾT: Bởi thế âm thanh là Vô thường.

4. Di Man Tác (Minàm Sa): Quan niệm "Thanh thường trụ", dù qua muôn vạn kiếp sinh diệt, lời nói của thần, Thánh điển vẫn còn mãi. Do đó, phái này rất tôn trọng giáo quyền, giải thích lời Thần và bảo tồn nghi thức Tôn giáo. Con người muốn Giải thoát, trong hiện tại phải có đức hy sinh.

5. Du Già (Yoga): Phương pháp tu tập là Thiền định, trầm tư mặc tưởng. Có thể mới đạt đích, ta với thần có thể tương hợp, thông cảm nhau, khi được xuất thần. Thiền định qua tám giai đoạn: Cấm chế (không sát, đạo, dâm, vọng, tham). Khuyến chế (thanh tịnh, mãn định, khổ hạnh, học kinh điển, tinh thần), Tọa pháp (điều thân), Ðiều tức (điều hơi thở), Chế cảm (ngừa 5 căn), Chấp trì (tập trung tư tưởng), Tĩnh lự (lắng động tâm tư), Ðẳng trì (vắng lặng như hư không, cảnh giới sáng lạng, thần ngã Giải thoát tự tại).

6. Phệ Ðàn Ðà (Vedanta) quan niệm thế giới sai biệt do Phạm thiên tạo ra. Phạm thiên là năng lực chứ không phải vật chất. Khí thế gian và hữu tình được tạo dụng, qua 5 yếu tố: hư không, gió, lửa, nước và đất. Con người biết trở về với Atman thể nhập với Brahman và được Giải thoát.

c) Kỳ Na Giáo (Jai na):

Ni Kiền Tử (Nataputta) chủ trương vật chất luận: Phạm trù tư tưởng là thực thể. Ðó là trạng thái sinh mệnh yếu tố, chia thành 5 thứ:

- Không: Nguyên lý bao trùm mọi nơi.

- Pháp: Nguyên lý vận động.

- Phi pháp: Nguyên lý đình chỉ.

- Vật chất: Nguyên lý tạo thành nhục thể.

- Thời gian: Nguyên lý biến hóa.

Phương pháp tu hành theo truyền thống độc thân, lõa thể, khổ hạnh, khất thực và giữ 5 giới (sát, đạo, dâm, vọng và không cất giữ châu báu). Vào thế kỷ thứ III có một số Đạo sĩ không tuân luật, lõa thể, tách lập một phái, chuyên mặc áo trắng gọi là phái bạch y.

d) Ðạo Phật, một Tôn giáo cách mạng xã hội tư tưởng:

Tình trạng chính trị xã hội, kinh tế và tư tưởng Tôn giáo Ấn Ðộ vào thời Ðức Phật hoàn toàn bế tắc. Chính trị xã hội bất công, đối kháng lên đến cực điểm. Giai cấp Phệ xá và Thủ đà la sống trong uất hận, xem trần gian như một Địa ngục, tư tưởng Tôn giáo phức tạp, quần chúng không còn niềm tin.

Theo kinh Brahmajala, với tư tưởng Tôn giáo phức tạp của Ấn Ðộ thời bấy giờ, Phật tóm tắt trong kinh Angattara Nikaya, qua 62 ý kiến, lý thuyết thế giới và con người, bắt nguồn từ quan niệm tin vào bản ngã (Brahman, Atman). Từ đó có thể chia thành ba khuynh hướng sai lệch.

1. Thần ý luận: Tin vũ trụ con người do thiên lý an bài.

2. Túc mạng luận: Cho con người do tiền nghiệp định đoạt.

3. Ngẫu nhiên luận: Sự vật, hiện tượng đều ngẫu nhiên.

Cả ba khuynh hướng phủ nhận vai trò con người đối với cuộc đời và cả thế giới khách quan.

Kết quả sinh ra hai xu hướng: Trốn đời khổ hạnh và thuận đời hưởng lạc thú vật chất. Giữa lúc gần như hỗn mang có một vị cứu tinh xuất hiện, đó là Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật đánh đổ chế độ giai cấp, biểu thị là trong Tăng đoàn của Ngài mọi người đều bình đẳng. Phật nói: Bốn giai cấp gia đồng qui họ THÍCH (tứ tính xuất gia, đồng qui thích thị). Với vũ trụ vạn hữu Phật xướng minh thuyết duyên sanh, với nhân sanh, Phật khuyên tu theo con đường Trung đạo.

II. Danh Hiệu Và Dòng Họ Ðức Phật.

Danh hiệu của Phật là THÍCH CA MÂU NI (Sakya Muni), tên là TẤT ÐẠT ÐA (Siddhatta), họ GOTAMA. Tiếng Phạn là Thích Ca Mâu Ni, Trung Quốc dịch là Năng Nhơn (Thích Ca, Sakya) và Tịnh Mặc (Mâu Ni, Muni), có nghĩa là dòng họ hay làm việc nhân từ và ưa vắng lặng. Danh hiệu Phật biểu thị Từ bi và Tri giác. Phật là một con người đầy đủ nghị lực, dũng mãnh chiến thắng cả nội lẫn ngoại ma, bước lên địa vị Giải thoát sinh tử luân hồi, gọi đó là năng. Phật còn có lòng thương không bờ bến, gọi đó là nhân. Phật cũng không bao giờ bị mù quáng trước những cám dỗ của cuộc đời, thể nhập với bản thể thanh tịnh, vắng lặng, gọi đó là tịch mặc. Phạm trù Triết học gọi là ý chí, tình cảm và lý trí. Phật thuộc dòng họ Cù Ðàm (Gotama) nên Phật có tên đời là TẤT ÐẠT ÐA, Trung Quốc dịch là Nhất Thiết Nghĩa Thành (mọi sở nguyện đều thành tựu).

Dòng họ GOTAMA từ viễn tổ Chung Sử Hứa đến Tất Ðạt Ða có 7 đời, kế thừa như sau: Ðại Thiên Sanh Vương, Sư Ma Ý, Ưu Ðà La, Cồ La, Sư Tử Giáp, Tịnh Phạn Vương, Tất Ðạt Ða.

III. Nhận Thức Và Thái Ðộ Sống.

Chưa tìm hiểu sâu vào cuộc đời của Ðức Phật, chỉ lướt qua bối cảnh thời đại và xã hội, tư tưởng Tôn giáo Ấn Ðộ và danh hiệu của Phật, chúng ta thấy Phật là một biểu tượng chói sáng đức tính Từ bi, Trí tuệ, Dũng mãnh, Bình đẳng, Giải thoát...

Phật đã từ bỏ giai cấp quyền quí đã thực hiện cuộc cách mạng xã hội. Phật không chấp nhận xã hội có phân chia giai cấp, vì Phật và chúng sanh đều bình đẳng. (Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành). Từ đó về sau, khi thành lập Giáo hội, chúng đệ tử không bị phân biệt là giai cấp quyền quí hay thứ dân cùng đinh. Phật là một nhà tư tưởng hướng về thực tế xã hội, nhằm cải thiện con người là trên hết. Bởi thế, Pfleiderer trong cuốn Primitive Christisnity đã viết: "Trong khoảng nửa thiên niên thứ nhất trước Tây lịch trên thế giới đã thấy xuất hiện nhiều tư tưởng gia có ảnh hưởng sâu xa trong quần chúng. Trung Hoa sản sinh Khổng Tử, Trang Tử, Ba Tư có Zoroastre, Hy Lạp có: Pythagore, Socrate, Platon, Ấn Ðộ Phật là một nhà cải cách hữu danh về phương diện đạo đức và Tôn giáo. Trong số các vĩ nhân này, Phật là người đã gây ra một trào lưu tư tưởng thấm nhuần một khối nhân loại lớn lao nhất. Phật không những có hàng triệu tín đồ mà hoạt động của Phật còn lan tràn sang cả Châu Âu nữa. Ðã có một thời kỳ đạo Thiên chúa bị đe dọa, lâm vào vòng phụ thuộc Phật giáo".

Phật được ca tụng như thế, bởi theo Phật, con người cần nhìn nhau qua phẩm hạnh đạo đức, Trí tuệ, hơn là ăn thua đủ với nhau qua mưu kế. Mưu sâu thì họa cũng sâu. Chúng ta hãy noi theo đức tính Từ bi của Phật để trải tình thương cho mọi người, hy sinh bản ngã cá nhân để phục vụ tha nhân, mình vì mọi người.

Noi theo Trí tuệ để tự soi sáng, soi sáng cho người để có cái nhìn khách quan nhìn sự việc như thật của nó, gọi theo phạm trù Triết học Phật giáo là "Như thị tri kiến".

Noi theo các đức dũng để có sức mạnh, để tự thắng mình. Nói khác hơn, căn bản và quan trọng là tự đấu tranh để diệt tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, dục, ố... hầu tự thăng hoa và vượt khó khăn trong sự thực hành Từ bi và Trí tuệ.

Noi theo đức tính bình đẳng, để sống Lục hòa, san bằng những gì không công bằng trong xã hội, tạo dựng một cuộc đời không có cảnh người bóc lột người, kẻ ở nhà cao cửa lớn, xe cộ bóng loáng, có người phục vụ, kẻ ở đầu đình, xó chợ, vỉa hè, gầm cầu...

Có noi theo gương đức Phật cải thiện bản thân, con người xã hội mới tốt đẹp được, vì con người là trung tâm của xã hội. Xã hội nên hư, tốt xấu, chinh chiến hay hòa bình, trung tâm vẫn do con người chủ động. Ngày nay, với con đường tư duy mới, không có con đường nào hơn, quan điểm chính trị đang phải quay hướng về con người. Tuần báo New Times của Xô Viết số tháng giêng 1988, phần kết luận của bài xã luận nhan đề là Man and politics đã viết: "Chính trị đang quay hướng về con người và những quan tâm hàng ngày của con người về đời sống an toàn xứng đáng và đang trở nên đầy nhân tính và văn minh hơn một cách chậm chạp nhưng chắc chắn. Con đường tư duy mới về chính trị này, hướng về con người là cơ hội duy nhất cho hòa bình".

Từ tư duy mới rất cơ bản đó, chúng ta thử hỏi: Khi con người được cải thiện, có nhiều đức tính tốt theo gương Ðức Phật, có thể nào xã hội không tốt đẹp hạnh phúc hòa bình tươi sáng?

Câu Hỏi Thảo Luận

1. Thời cổ đại, tổ chức chính trị xã hội Ấn Ðộ như thế nào?

2. Khi người Aryan tràn vào vùng Ngũ Hà, tổ chức xã hội chính trị Ấn Ðộ như thế nào?

3. Kinh Veda mang tính Triết lý gì? Và được hình thành như thế nào?

4. Hãy trình bày và đánh giá Lục sư ngoại đạo.

5. Sáu phái Triết học Ấn Ðộ như thế nào?

6. Tại sao Phật ra đời trên mảnh đất phì nhiêu về tư tưởng Triết học Ấn Ðộ?

7. Thế nào là Thích Ca Mâu Ni?

8. Với thực tế xã hội hiện tại, hình ảnh Ðức Phật có đóng góp được gì không?

Bài 2: Thái Tử Tất Ðạt Ða.

Với đa phần các Tôn giáo vị giáo chủ có đầy đủ mọi quyền năng. Nhưng riêng đạo Phật, đức Phật là một đấng Giác ngộ, bậc Đạo sư, chỉ đường cho nhân loại, chúng sinh. Còn đến đích hay không tùy mỗi chúng ta. Vì Phật là con người thật, Phật nhìn rõ bối cảnh lịch sử xã hội Ấn Ðộ đương thời, cảnh sinh, già, bịnh, chết của chúng sinh và tìm ra phương pháp để chúng sanh thực hành, gần là đem lãi an lạc cho xã hội con người, cao hơn là Giác ngộ và Giải thoát. Bởi thế, khi còn ở đời Phật giống tất cả mọi người bình thường, có điều là tư chất, tư duy của Phật được trội hơn. Chúng ta có thể nói đó là một con người ưu việt, gương mẫu, không đắm say lạc thú trần gian.

I. Phật Ðản Sanh.

Vào năm 624 trước Tây lịch tại nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu) thuộc phía Bắc Trung Ấn, Thái tử Tất Ðạ Ða (Siddhàttha) ra đời. Thái tử con vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và Hoàng hậu Ma Da (Maya).

Theo phong tục Ấn Ðộ, phụ nữ mang thai khi sắp sinh phải về nhà cha mẹ đợi ngày lâm bồn. Ðang chuẩn bị lên đường, vào một buổi sáng trời đẹp, chim hót, hoa cười. Ma Da xin vua Tịnh Phạn ra vườn Thượng uyển thưởng cảnh.

Khi đến gốc cây Ưu Bát La, thuờng gọi là Vô ưu (Asoka) thấy màu sắc của hoa thật rực rỡ. Ma Da vịn cành định hái hoa, một Thái tử ra đời. Bấy giờ là ngày trăng tròn tháng Veaka nhằm ngày rằm tháng tư âm lịch. Vườn ngự uyển có tên là Tâm Tỳ Ni (Lumbini) ở ngoài thành Ca Tỳ La. Hay tin Thái tử ra đời, Vua Tịnh Phạn rất vui mừng vì nhà Vua và Hoàng hậu tuổi đã cao mà chưa có con để kế thừa ngôi báu. Lúc hạ sanh Thái tử, Ma Da đã 45 tuổi.

Nhà vua đích thân xa giá vô cùng rầm rộ, đón Thái tử về Hoàng cung và đặt tên là Tất Ðạt Ða. Ngoài dân chúng tụ tập tung hô, dọc theo lộ trình, các Bà la môn cũng đến Hoàng cung chúc tụng và được nhìn diện mạo Thái tử. Trong số đó có một Bà la môn tên là A Tư Đà (Asita), bác học đa văn, khi thấy Thái tử diện mạo khôi ngô tuấn tú phi thường rất đổi ngạc nhiên và khóc. Thấy thế nhà Vua càng lo âu, chắc có điều xấu chăng! Vua hỏi: Tại sao Đạo sĩ khóc. - Ðạo sĩ đáp: "Ðối với Hoàng cung, sự ra đời và tướng mạo của Thái tử là một quang vinh lớn lao, từ xưa đến nay chưa từng có. Còn tôi khóc là khóc cho tôi bạc phước không thể kéo dài mạng sống để được học hỏi đạo lý Giác ngộ và Giải thoát mà Thái tử sẽ tu chứng".

Sau khi bày tỏ tâm tình, A Tư Ðà xin được xem tướng Thái tử để biết tương lai của Ðông cung. Nhà Vua chấp thuận. Sau một hồi nhìn ngắm, A Tư Ðà khẳng định rằng: nếu Thái tử ở ngôi vua sẽ là một đại đế, thống nhiếp thiên hạ, đem lại an lành cho trăm họ. Còn nếu xuất gia, Thái tử sẽ thành bậc đại giác cao cả, Trí tuệ tuyệt vời, có cái nhìn siêu tuyệt, phán nhận vũ trụ, nhân sinh một cách xác đáng. Từ đó là một Đạo sĩ chỉ dẫn cho con người đường hướng xây dựng bản thân và gia đình xã hội hạnh phúc đẹp tươi, cao hơn là Giác ngộ, Giải thoát. Giác ngộ sự thật của muôn vật, Giải thoát mọi ưu phiền của vô minh, tham ái chấp trước, sinh tử luân hồi.

Theo Triết học, tất cả tâm tư và ước vọng của con người đều được biểu hiện trên nét mặt, nói cụ thể hơn, ở một khía cạnh, tâm lý học gọi con mắt là cửa ngõ của tâm hồn. Bởi thế, tư chất thông thái đủ các đức tính tốt gương mẫu, từ ái, hùng tráng... đã biểu hiện rõ nét trên con người Thái tử Tất Ðạt Ða.

Về năm sinh của Phật có nhiều thuyết, nhưng có 3 thuyết gần như nhau:

- Theo "Chúng Thánh điển ký" Phật Đản sanh năm 565 trước Tây lịch và Niết bàn năm 483 trước Tây lịch.

- Theo các nhà khảo cổ Tây phương, Phật sinh năm 563 trước Tây lịch và Niết bàn năm 483 trước Tây lịch.

- Theo Hội Phật giáo Thế giới, Phật Đản sanh năm 624 trước Tây lịch và Niết bàn năm 544 trước Tây lịch.

Phật lịch mà chúng ta đang sử dụng là theo sự phán quyết của Hội Phật giáo Thế giới. Sau khi đã tham khảo nhiều sự kiện đó là Phật lịch thống nhất của Phật giáo Thế giới ngày nay. Còn về nơi Phật Đản sanh là, vườn Lâm Tỳ Ni. Năm 1986 nhà khảo cổ người Anh Cuningham, đã khai quật được một trụ đá trong số 4 trụ đá do Vua A Dục chôn để ghi lại nơi chốn đã gắn liền với lịch sử Ðức Phật, thường gọi là TỨ ÐỘNG TÂM. Trên trụ đá có khắc 5 dòng chữ:

1. Năm Thiện Ái Thiện Kiến thứ 25, A Dục đích thân đến đây chiêm bái.

2. Ðức Phật Ðà, dòng họ Thích Ca đi xuất gia, Ðản sinh ở đây.

3. Vua Sắc dựng thanh trụ để kỷ niệm nơi Ngài Ðản sinh.

4. Thôn Lumbini, nơi Phật Ðản sinh được miễn thuế.

5. Ðó là hồng ân Phật đối với nơi Ngài Ðản sinh.

Y cứ vào trụ đá được khai quật, Tây phương xóa bỏ được quan niệm cho Phật là một nhân vật thần thoại và học thuyết là một sáng tác do tập thể tô điểm cho Phật. Từ đó, Tây phương chấp nhận Phật là một nhân vật lịch sử, có thật đáng được tìm hiểu nghiên cứu. Vì theo Tây phương, trụ đá là: Bản khai sinh của Ðức Phật.

II. Giáo Dương Và Tài Năng Của Tất Ðạt Ða.

Sau khi sinh Thái tử Tất Ðạt Ða được 7 ngày, Hoàng hậu Ma Da lìa đời. Thái tử được Di mẫu là Ma Ha Ba Xà Ba Ðề tiếp tục lo giáo dưỡng chu đáo. Ma Ha Ba Xà Ba Ðề (Maha Prajapati) và Ma Da là hai chị em con Vua thành Thiên Tý nước Kosala. Mặc dù về sau hạ sinh Nanda (Nanda); bà vẫn chìu chuộng, thương yêu Thái tử hơn con đẻ.

Ðể hầu hạ Thái tử nhà Vua tuyển lựa 32 cung nữ chia thành 4 nhóm, mỗi nhóm có 8 người: nhóm lo bồng ẵm, nhóm lo tắm rửa, nhóm lo bú mớm, nhóm lo bày các trò chơi. Tuy được nuông chìu sống trong nhung lụa, không thiếu bất cứ một thứ gì, nhưng Thái tử luôn luôn tỏ ra không ham thích. Trên nét mặt thường lộ vẻ đăm chiêu như đang mơ đến một nơi xa xăm. Dù còn nhỏ, Thái tử vẫn tỏ ra hoạt bát, lanh lợi, thông minh và rất dễ thương, gương mẫu.

Từ năm lên 7 đến 13 tuổi Thái tử được theo học cả 2 ngành văn học và võ nghệ, các danh sư đều phục tài Thái tử. Lần đầu tiên Thái tử học với Tỳ Xa Bà Mạt Ða La (Nisvamita) bậc chuyên dạy nghệ thuật tác văn cho Vương Tôn Công tử. Vị Thầy mới kể qua 60 loại tự khác nhau, Thái tử liền hỏi rằng: Với các loại tự đó, Thầy định dạy con học thứ chữ nào? - Vị Thầy rất ngạc nhiên và thưa với Thái tử: "Ta không còn gì để dạy cho Thái tử nữa".

Với tứ Thánh Vệ Ðà và Ngũ minh, Thái tử nghe qua liền thuộc. Tứ Vệ Ðà là:

1. Lê Câu Phệ Ðà (RigVeda) bằng kệ tụng, Thánh Ca mang tính thần thoại dạy phép dưỡng sinh, bộ sách là căn bản cho các Triết lý Ấn Ðộ về sau.

2. Da Du Phệ đà (Yajur Veda) là các thứ binh pháp.

3. Sama Phệ Ðà (Sama Veda) nghi thức tế tự bốn mùa.

4. A Thác Ba Phệ Ðà (Atharva Veda) chú thuật.

Ngũ minh là:

1. Thanh minh: Ngôn ngữ học và văn học.

2. Nhân minh: Luân lý học.

3. Công xảo minh: Công kỹ nghệ học.

4. Y phương minh: Y dược học.

5. Nội minh: Ðạo lý học.

Năm lên 13 tuổi, Thái tử am tường hết các môn học. Bấy giờ Thái tử chuyên học võ nghệ. Với bản chất cường tráng, tất cả các môn võ và chiến thuật, chiến lược, Thái tử tỏ ra thông minh, thông suốt, thuần thục một cách lạ thường.

Sau thời gian học tập, để thay đổi không khí, một hôm Thái tử đi về làng quê, trên đường đi, vì trời nóng nực, Thái tử đến ngồi nghỉ mát ở một gốc cây. Từ đó Thái tử bắt đầu tư duy. Trong chốc lát Thái tử đã thu hút vào thế giới Thiền định. Bấy giờ có 5 Tu sĩ đi qua cánh đồng, thấy Thái tử đang Thiền định, với tư tưởng thần quyền sẵn có, họ hỏi nhau: Người đang nhập định kia là một thiên thần hay thần tài, thần tình ái? Thần sấm Indra hay thần mục đồng Krisma? Sau khi nghe các cận sự của Thái tử cho hay vị đang Thiền định là Hoàng tử Tất Ðạt đa, giòng họ Thích Ca. Bấy giờ, 5 vị Tu sĩ lên tiếng ca ngợi: "Ðúng thế, Thái tử đang Thiền định dưới gốc cây có nhiều dấu hiệu vạn năng. Trong tương lai, chắc chắn Thái tử sẽ thành bậc chánh giác".

Qua tư duy trong Thiền định lần thứ nhất, Thái tử thấy xã hội quá bất công. Giới Bà la môn và Sát đế lợi thường hưởng quá nhiều quyền uy, trong khi nông dân chịu nhiều cơ cực, suốt ngày đổ mồ hôi dưới ánh nắng gay gắt mà vẫn không đủ ăn, đủ mặc. Thái tử trình với phụ vương những tư duy của mình lúc ngồi dưới gốc cây trên một cánh đồng ở miền quê.

Cũng tại nơi cánh đồng này, khi một con nhạn bị bắn rơi, Thái tử đã đi kiếm lá đắp lên vết thương và an ủi vỗ về nhạn. Thái tử cũng mang nhạn về chăm sóc, đến khi vết thương lành hẳn, Thái tử mới cho nhạn tung cánh giữa bầu trời cao rộng.

Thấy Thái tử tuổi đời còn bé bỏng, nhưng lòng từ ái lại bao la, tư duy đã sâu sắc, nhất là văn võ có thể rất cao cường. Vua Tịnh Phan tin tưởng tương lai vùng Ngũ Hà sẽ được qui về một mối, Kosala và Ma Kiệt Ðà không còn ở ngoài Ca Tỳ La Vệ. Ðể chuẩn bị cho mộng ước đó, Vua Tịnh Phạn ra lệnh cho giòng dõi Thích Ca phải luyện tập võ nghệ. Sau thời gian tập dượt, nhà Vua mở đại hội so tài, qua cỡi ngựa và so tài bắn cung. Tại đấu trường, Nan Ðà em ruột của Thái tử đã ngồi trên yên ngựa bắn xuyên điểm đích của một trống đồng. Ðến Bà Ðạt Ða, em con chú của Thái tử cũng trên yên ngựa, bắn xuyên đích ba lớp trống đồng. Khán giả reo hò, vỗ tay, nhiệt liệt tán thưởng. Ðến phiên mình, Thái tử cho cung tên đang dùng nhẹ quá xin được sử dụng cung tên của Tiên Ðế trong võ khố, còn trống đồng xin được xếp nhiều lớp và để thật xa, chỉ nhìn thấy như một chấm đích. Chuẩn bị xong xuôi, Thái tử mang cung tên và lên yên ngựa một cách nhẹ nhàng, thúc ngựa phi để đến gần điểm giới hạn, Thái tử buông dây cung, mũi tên xuyên 7 lớp trống đồng, khán giả reo hò vang dội như long trời lỡ đất. Cả Hoàng thành mở hội liên hoan, cờ xí tung bay khắp mọi nẻo đường. Vua Tịnh Phạn vững tin vào tương lai huy hoàng của xứ sở.

III. Thái Tử Không Ðắm Say Lạc Thú.

Tuy tài nghệ không ai sánh bằng, Thái tử không những không kiêu căng mà còn tỏ nét rất khiêm cung, hòa nhã, từ ái... Ðôi mắt vẫn luôn luôn đăm chiêu như nhìn về một nơi nào xa thẳm. Nhớ lời tiên đoán của A Tư Ðà, nhà Vua càng thêm lo lắng... Ðể làm sợi dây trói buộc Thái tử, nhà Vua tiến hành việc cưới vợ cho con. Năm 17 tuổi Thái tử kết hôn với công chúa Da Du Đà La (Yasodhara) con Vua Thiện Giác (Suprabuddha) thành Thiện Tý (Davadarsita). Trong cuộc hôn nhân này, Thái tử đã phải so tài mới cưới được Da Du Ðà La, một công chúa kiều diễm, thùy mị. Bởi Vua Thiện Giác, giòng họ Thích Ca chỉ gả con cho người có đầy đủ tài năng, sức lực, dũng cảm và khôn ngoan. Trong cuộc so tài, Thái tử đã thắng môn số học với Ác Du Na (Arjyna). Về võ nghệ, Thái tử đã bắn xuyên thủng một thân cây thật xa. Thái tử đã chinh phục được một con voi trắng khổng lồ mà Ðề Bà Ðạt Ða đã không thành công, vì tưởng rằng voi sẽ ngoan ngoãn theo những cú đấm vào thân voi của mình.

Khi Da Du Ðà La hạ sinh ra La Hầu La (Rahula) Vua Tịnh Phạn vô cùng an lạc, vì tưởng rằng Thái tử sẽ thương vợ nhớ con, đời gọi là: "Thê thằn tử phược: mà trở về với thực tại, hết u buồn xa xăm".

Ngoài Da Du Ðà La, nhà Vua còn cưới thêm cho Thái tử hai kiều nữ và tuyển nhiều cung phi mỹ nữ hầu hạ Thái tử. Tình thương của nhà Vua đối với Thái tử thật không bờ bến, nhà Vua lo cho Thái tử không thiếu một thứ gì. Với xứ Ấn Ðộ, vào mùa hè sức nóng như thiêu đốt, về màa mưa, mưa xối xả dầm dề, về mùa đông trời rét căm căm. Bởi thế không muốn Thái tử sinh phiền, nhà Vua đã xây dựng ba cung điện nguy nga tráng lệ, có đủ mọi tiện nghi thích hợp với khí hậu từng mùa. Ðó là lâu đài cho mùa đông, lâu đài cho mùa hạ và lâu đài cho mùa mưa.

Nếu có dịp qua Ấn Ðộ, chúng ta thấy Ấn Ðộ có nhiều kiểu nhà không cao, mái lợp bằng đất, trên phủ tranh hoặc ngói, tường xây thật dày có khi hai lớp, giữa có một khoảng trống. Nhà kiểu này mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát.

Sống trên nhung lụa, đầy đủ tất cả lạc thú trần gian, thế nhưng Thái tử vẫn không say đắm, luôn luôn trau dồi phẩm hạnh giữ tâm hồn trong sạch, tránh làm điều ác và làm mọi điều lành. Thái tử thường phát phẩm vật cho những người có đức hạnh, nghèo túng, hòng tạo công bình cho mọi người. Ðối với những người mắc tội, Thái tử không giận dữ đánh mắng, mà lại đem lời nhu hòa khuyên nhủ và cho họ được tự do. Ðó là bản chất Thánh nhân đã có sẵn trong tâm hồn Thái tử. Ðặc biệt là Thái tử không quên cảnh tượng mất bình đẳng của xã hội Ấn Ðộ lúc bấy giờ mà Thái tử đã chứng kiến hồi còn nhỏ trong lần về đồng quê. Thuở đó, Thái tử chứng kiến bác nông phu, phải chân lấm tay bùn, mồ hôi ướt đẫm, ánh nắng thiêu đốt mà cơm không đủ no, áo không đủ che thân. Ngược lại với người cầm quyền, giòng Bà la môn và Sát đế lợi lại ngồi mát ăn bát vàng. Ðúng là cuộc sống của người vương giả, đi đâu cũng tiền hô hậu ủng, lộng tía tàng vàng, ngất ngưỡng trên xe ngựa. Ðó là chưa kể đến giai cấp cùng đinh suốt đời là nô lệ. Mặt khác cũng trên cánh đồng, Thái tử còn chứng kiến những cảnh tượng đau lòng, con trâu thật vất vả để kéo lưỡi cày xới lên những luống đất như lật từng tảng đá. Tuy thế, con trâu vẫn chịu nhiều roi vọt, vì bác thợ cày muốn sớm hoàn tất việc canh tác đúng thời vụ. Trên luống đất cày chim chóc lại sà xuống bắt côn trùng. Chim quạ khi đã no nê, lên đậu cành cây lại bị chồn cáo rình bắt. Chồn cáo lại không tránh được lưới bủa của người thợ săn và bị đánh hơi của chó săn. Những cảnh tượng mạnh hiếp yếu, khôn lấn dại của chúng sanh đã đánh thức Từ tâm và Trí tuệ của Thái tử.

Cảnh tượng xã hội bất công, chúng sanh khốn khổ, đã in sâu vào tâm khảm của Thái tử từ thời thơ ấu không sao xóa mờ được, dù sống trên cao lương mỹ vị, gác tía lầu son, vợ con thằn phược. Từ đó mối buồn của Thái tử không bao giờ vơi. Quan cố vấn Ưu Ðà Di (Udàyin) không sao quyến rũ được Thái tử. Qua các cuộc vui với rượu ngon, sắc đẹp, tiếng hát, điệu vũ của cung tần mỹ nữ. Ðó cũng là nguyên nhân bước đầu để có đêm Thái tử quyết định, quyết tâm vượt thành xuất gia tìm đạo.

IV. Nhận Thức Và Kết Luận.

Với các Tôn giáo, đấng giáo chủ bao giờ cũng là bậc sáng thế toàn năng, tự hữu, được tạo tượng tôn thờ như một thần linh ban ân giáng phước cho trần thế, cho người cầu khấn. Khi chưa khai quật được trụ đá do Vua A Dục chôn, Tây phương không mấy tin có một giáo pháp được nói ra từ chính Ðức Phật. Mãi đến khi nhà khảo cổ Cuningham khai quật được trụ đá, Tây phương mới cho trụ đá là một bản khai sinh của Phật. Từ đó, chúng ta nhận thấy rằng: Hình tượng Ðức Phật kể cả tượng sơ sinh được tôn trí trong Chùa là một biểu tượng cho chúng ta chiêm bái. Chúng ta niệm Phật, lễ Phật là cung kính cảm ơn Đức của Phật. Qua năm tháng, trong ngày Phật Ðản, chúng ta thường làm Vườn Lâm Tỳ Ni có tượng Phật đi trên 7 hoa sen và một tay chỉ lên một tay chỉ xuống, đó cũng là một biểu tượng về Ðức Phật và đạo Phật. Con số 7 là con số truyền thống của Ấn Ðộ có nghĩa là tốt lành (cát tường) giống như con số 9 của Trung Quốc. Theo Phật giáo, Phật Thích Ca là Ðức Phật thứ 7 trong số 7 Ðức Phật nối tiếp từ quá khứ đến hiện tại. Ðức Phật Ðản sinh ra trong xã hội Ấn Ðộ đầy bất công vữa nát... Nhưng Phật như một đóa sen không bị lạc thú trần gian làm ô nhiễm. Con người và giáo thuyết của Phật vượt hẳn các giáo thuyết, về cả không gian lẫn thời gian và được biểu thị qua câu: "Ta là bậc tối thượng, tối tôn, cao nhất ở trên đời". (Hòa thượng, Thích Thiện Siêu dịch, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tập 10 - trang 3) Câu nói đó cũng chỉ nhằm chỉ tính giác Phật tu tự kiến siêu việt và tâm đại bi đồng thể sẵn có trong mỗi chúng sanh. Dựa trên quan điểm Phật và chúng sinh đều có đầy đủ đại trí và đại bi đó. Nhà nghệ sĩ Việt Nam đã tư duy để tạo thành một tượng Bồ tát nghìn mắt nghìn tay cho nhân dân chiêm ngưỡng. Có thời còn ưu việt hơn, tín đồ Phật giáo Việt Nam thờ Phật bằng hình vẽ một vòng tròn sáng trên tòa sen hay một lá bồ đề trên tòa sen thay vì một hình Phật ngồi trên tòa sen đã thật phổ biến. Tuy nhiên, với những hình tượng đó, người bình thường khó cảm nhận được, cho nên với biểu tượng lúc Phật còn ở đời, nhà nghệ sĩ tạo một cậu bé khôi ngô tuấn tú đi trên 7 hoa sen, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất. Còn phổ biến hơn là tôn thờ hình tượng Phật có nét mặt hiền từ, đôi mắt lim dim và đôi môi mỉm cười hoan hỉ.

Câu Hỏi Thảo Luận

1. Qua tướng mạo, Đạo sĩ A Tư Ðà tiên đoán Thái tử Tất Ðạt Ða như thế nào? Sự tiên đoán qua tướng mạo mang tính gì?

2. Hãy nêu những thuyết về thời gian Phật Ðản sinh và cho biết chúng ta đang theo thuyết nào? Tại sao?

3. Tây phương dựa vào đâu mà tin Phật là một nhân vật lịch sử có thật?

4. Hãy cho biết các tài năng của Thái tử Tất Ðạt Ða?

5. Khi về đồng quê Thái tử Tất Ðạt Ða đã thấy những gì và làm những gì?

Bài 3: Thái Tử Tất Ðạt Ða Xuất Gia.

Khi còn là một Thái tử, dù tuổi đời còn nhỏ, Tất Ðạt Ða đã trưởng thành trong tư duy, đã có cái nhìn về xã hội Ấn Ðộ, về tư tưởng đạo giáo đương thời và về cuộc sống chúng sinh thật chính xác. Lúc bấy giờ xã hội phân chia giai cấp, cuộc sống giữa người với người tràn ngập bất công, đạo Bà la môn mang tính thần quyền, phủ nhận hết mọi khả năng của con người. Cuộc sống của nhân loại chúng sinh xây đắp tồn tại trên sức mạnh và mưu trí. Bởi thế dù sống trên mỹ vị cao lương, trong lụa là nhung gấm, châu báu tràn đầy, cung nga mỹ nữ, kẻ hầu người hạ bao quanh đáp ứng mọi nhu cầu, nhưng Tất Ðạt Ða vẫn không tự mãn. Thái tử luôn luôn mơ đến một chân trời cao rộng, suy tìm chân lý cứu khổ cứu nạn cho trần gian.

I. Nguyên Nhân Thái Tử Ðạt Ða Xuất Gia.

Có quan niệm cho rằng: Cái khổ nạn của con người do Thượng đế an bài, hay do tiền nghiệp định đoạt hoặc ngẫu nhiên. Ðó là 3 khuynh hướng phủ nhận vai trò con người với cuộc đời và thế giới khách quan. Theo lý duyên khởi, tất cả mọi hiện tượng đều sinh tồn theo luật Nhân quả. Tình trạng chính trị, xã hội, kinh tế, Tôn giáo, tư tưởng Ấn Ðộ không tốt đẹp, không ổn định do Bà la môn mà phát sinh. Tất Ðạt Ða đã chứng nghiệm tình trạng đó, trong lần nhập định tư duy lần thứ nhất tại miền đồng quê. Tại nơi này, cảnh mạnh hiếp yếu, khôn lấn dại của chúng sinh cũng đã phơi bày trước mắt Thái tử. Ðó là những lý do khởi đầu nhen nhúm trong tâm tư Thái tử Tất Ðạt Ða ý niệm phải làm gì để cứu vãn.

Khi trưởng thành, thấy không thể mãi mãi đóng khung trong Hoàng cung hưởng mọi lạc thú vật chất, Thái tử Tất Ðạt Ða xin Vua cha ra dạo các cửa thành. Biết không thể kềm hãm Thái tử một cách liên tục được, nhà Vua đã thuận theo lời yêu cầu của Thái tử. Nhà Vua ra lệnh cho dân chúng phải quét dọn sạch sẽ trên những lộ trình Thái tử đi qua và phố nhà phải trang hoàng lộng lẫy.

Theo nhà Vua không được để một cảnh nào không đẹp đập vào mắt, gieo vào tâm tư Thái tử.

Sau khi kinh thành đã được trang hoàng cờ hoa rực rỡ, một cỗ xe lộng lẫy và đoàn tùy tùng cũng đã chuẩn bị để đưa Thái tử du ngoạn.

Lần thứ nhất ở một cửa thành, Thái tử thấy một cụ già lụ khụ khập khiễng với cái gậy, thân hình tiều tụy, da thịt nhăn nheo, gân guốc nổi lên cùng mình, mặt mày thiểu não, miệng nói lắp bắp... Vì thật dị dạng, chưa từng thấy, Thái tử hỏi Xà Ích: Người gì lạ thế? Trong tư thế không ngờ, chưa kịp chuẩn bị, Xà Ích đã trả lời: Ðó là một cụ già, con người ai cũng có thời kỳ như thế, trước khi nhắm mắt từ giã cõi đời. Nghĩ đến thân phận con người sao mà áo não đến thế, Thái tử bỏ cuộc du ngoạn.

Lần thứ hai, ra một cửa thành khác, Tất Ðạt Ða gặp một người bịnh bụng trướng to như cái trống, hơi thở khò khò, tay chân teo tóp, đầy cả gân xanh, miệng rên rỉ bi thiết, mắt tràn lệ nóng... Thái tử hỏi: Xà Ích, đây là thứ gì mà ghê gớm đến thế! Xà Ích đáp: Ðó là một người mắc bệnh hiểm nghèo, hiện thân của sự suy tàn. Con người ai cũng có thời nhuốm bịnh kể cả tôi và Thái tử. Tiếng rên của con bịnh khiếp đảm quá, Thái tử cho xe giá trở lại, bỏ cuộc du ngoạn, tâm tư đầy chua xót.

Lần thứ ba, đi ra một cửa thành khác bốn người khiêng một xác chết với nhiều người theo sau đầu tóc rối bù, mặt mày ảm đạm, than khóc thê thảm. Thái tử hỏi Xà Ích: - Người khiêng cái gì thế! Tại sao lại có người đi theo sau với những tiếng nấc như nghẹn ngào ai oán!... Xà Ích đáp: Tâu Hoàng tử đó là một xác chết. Vì bịnh tật hoành hành, hơi thở hắt ra không còn trở lại, cơ thể con người lạnh như tảng băng. Người chết mất hết trí khôn, không còn cảm giác để thụ hưởng các lạc thú trần gian. Ai cũng bước đến con đường tử vong, kể cả tôi và Thái tử. Nghe rùng rợn quá, Thái tử lại bỏ cuộc du ngoạn trở về với nhiều suy tư dày vò.

Với 3 lần du ngoạn, thấy các cảnh tượng già, bệnh, và chết luôn luôn đe dọa con người cứ mãi hiện trong đầu óc, Thái tử càng thêm chán ngán cuộc sống ở đời. Thái tử rất bi quan và không còn ý muốn ra khỏi Hoàng cung. Nhà Vua lại do Thái tử có thể bị nhuốm bịnh vì quá ưu tư, sầu não... Ðể có thể giải sầu cho Thái tử, nhà Vua đặc tránh cho Ưu Ðà Di toàn quyền tìm phương pháp làm vui Thái tử. Ưu Ðà Di tuyển thêm cung nữ, bày thêm nhiều trò vui để làm lung lạc Thái tử. Trong các cung nữ có Tôn Ðà Ly là một mỹ nữ kiều diễm nhất. Ưu Ðà Di dạy cho cung nữ các yêu thuật để mê hoặc và quyến rũ Thái tử. Cuối cùng vẫn không lung lạc được Thái tử, Ưu Ðà Di chấp nhận sự thất bại và xin được cùng Thái tử bàn về cái nổi thống khổ của con người và bàn đến lạc thú trần gian những thứ làm mù tối con người.

Sau một thời gian suy gẫm, Thái tử lại xin Vua cha cho đi du ngoạn ngoài Hoàng cung. Ðể tránh các cảnh già, bịnh, chết có thể xảy ra, để những gì thiếu thẩm mỹ không diễn ra trước mắt Thái tử, nhà Vua ra lệnh nếu trật tự an ninh không chu đáo ở khu vực nào, người có trách nhiệm ở khu vực đó sẽ bị bay đầu. Do sự đề phòng chu đáo, cảnh giàu bệnh, chết không xảy ra, nhưng một cảnh khác lại quyến rũ Thái tử thật phi thường. Lần du ngoạn thứ tư này ở một cửa thành, Thái tử gặp một Đạo sĩ mặt mày phương phi tóc râu như tuyết, dáng người thanh cao, siêu thoát. Cho xa giá dừng lại, Thái tử hỏi Đạo sĩ: Ông là ai? Có phải là người không, trang phục của người sao thật lạ đời? Ðạo sĩ đáp:

- Tôi là một người bình thường như tất cả mọi người, nhưng tôi đã dẹp hết phiền muộn ưu sầu. Cuộc sống của tôi đã dứt hết sự ràng buộc vấn vương của gia đình. Các lạc thú vật chất tôi không màng đến. Tôi luôn luôn vui vẻ đối với tất cả mọi người, ai oán ghét tôi, tôi vẫn không thù hận. Tôi tìm mọi cách để cứu giúp người khi họ cần đến. Tôi mặc áo hoại sắc, nuôi sống bằng cách đi khất thực, từ nơi này qua nơi khác. Tôi thích sự an tịnh của núi rừng, vì nơi đó không có sự tranh chấp của con người. Các phiền não cũng nhờ đó mà dứt sạch. Sanh, già, bệnh, tử là những tai họa lớn lao đối với con người, cho nên tôi cố gắng tự sách tấn tu hành để sớm được Giác ngộ và Giải thoát vòng luân hồi ràng buộc.

Sau khi Đạo sĩ dứt lời, tâm tư của Thái tử vô cùng sảng khoái, nhẹ nhàng như gánh nặng sanh, già, bệnh, tử đè nặng lên đôi vai Thái tử đã được buông xuống. Thái tử thấy hạnh nguyên của Đạo sĩ giống với ước mong của chính mình. Thế rồi, Thái tử tạm biệt Đạo sĩ với quyết tâm ra khỏi "ngục vàng" tìm đạo Giác ngộ và Giải thoát.

II. Thái Tử Tất Ðạt Ða Xuất Gia.

Khi trở về Hoàng cung, Thái tử tâu trình với Vua cha, ý định muốn từ giã kinh thành, xuất gia cầu mong Giải thoát. Bị xúc động nhà Vua nghẹn ngào khuyên nhủ Thái tử, đại ý nói: Tuổi con còn trẻ, chưa thấu hiểu hết mọi lẽ ở đời. Già, bệnh, chết là luật của Thượng đế an bài, con đâu có thể cưỡng lại được. Còn những gì khó khăn, gian khổ của con người lúc nào cũng đầy dẫy, một mình con đâu có thể khỏa bằng để cõi đời thường xuyên an lạc được. Còn nếu bảo xuất gia để tìm sự nhàn tịnh, không bận rộn việc thế tục, vấn đề đó con nên nhường lại cho cha. Vì cha tuổi già sức yếu đang muốn lên ngôi Thái Thượng Hoàng, nhường lại sơn hà xã tắc cho con. Vì hiếu đạo, con nên ở lại Hoàng cung thay cha lo việc an dân trị quốc. Giữa tình nhân loại và hiếu đạo trong gia đình, tuy thật nghẹn ngào khi nghe vua cha phán, nhưng Thái tử lại tâu: Con sẽ ở lại Hoàng cung nếu Vua cha ban cho được 4 điều: Ðó là mạng sống của con sẽ không kết thúc bằng cái chết, bệnh tật sẽ không tàn hại nhan sắc, sức khỏe luôn luôn dồi dào, cái già sẽ không theo sau tuổi xuân, tai họa sẽ không hủy diệt sự phồn vinh của con người và nhân dân Thành Ca Tỳ La Vệ.

Vua Tịnh Phạn cho Thái tử đòi hỏi quá nhiều. Vì không đáp lại được yêu cầu, Thái tử xin nhà Vua đừng cản ngăn ý nguyện của Thái tử trên con đường xuất gia, suy tìm chân lý Giác ngộ và Giải thoát. Trong một đêm trăng tròn của tháng Vésaka, Thái tử dứt khoát ra đi theo tiếng gọi của tình nhân loại. Dọc theo hành lang Thái tử lửng thửng đi về phía gian phòng của Da Du Ðà La để tỏ lời từ biệt. Ngang qua các gian phòng được trang trí để các vũ nữ múa hát giúp vui trong buổi tiệc chiều tối vừa rồi, Thái tử nhìn tận mắt cái vẻ đẹp yêu kiều duyên dáng của các cung phi mỹ nữ không còn nữa. Các cô có vẻ mệt mỏi ngủ say mê, đầu tóc rối bù phấn son nhòe nhoẹt, xiêm áo tả tơi... Các cô hoàn toàn trở về với nguyên trạng của con người. Lúc vào phòng, tiến đến bên giường của Da Du, Thái tử định đánh thức nàng dậy nhưng e sự bịn rịn của nhi nữ thường tình sẽ cản trở bước đi. Do đó, Thái tử lại nhẹ lui bước. Vẫn còn là con người, tình cảm thương yêu vợ con làm Thái tử xao xuyến. Thái tử đã phải ba phen bước vào rồi bước ra. Cuối cùng, Thái tử dứt khoát với ý niệm lặng lẽ ra đi là ổn hơn hết, mặc cho cõi lòng còn vấn vương ray rứt...

Ra khỏi hành lang, Thái tử bước vội xuống chuồng ngựa, bảo Xa Nặc dắt ngựa trắng Kiền trắc (Kamthakia) ra và hãy cùng Thái tử trốn khỏi cung điện trước khi bình minh ló dạng. Hai Thầy trò với ngựa Kiền Trắc vun vút đi dưới ánh trăng rằm tỏ rạng.

Ðến bên bờ sông A Nô Ma, trời vừa sáng và đã cách xa kinh thành khoảng 10 dặm. Thái tử thấy xa xa hiện rõ một khu rừng gọi là khổ hạnh lâm. Nơi đó là khu rừng của các nhà khổ hạnh trú ngụ, tu tập. Khi Kiền Trắc vừa dừng bước, một thợ săn cũng vừa từ đằng xa đi tới. Thái tử liền nghĩ đến con đường vào rừng khổ hạnh không để nhung lụa gấm vóc còn dính thân. Do đó, Thái tử đem chiếc áo đổi cho người thợ săn. Trao đổi xong, Thái tử cởi hết áo mão, lấy gươm cắt tóc giao cho Xa Nặc để đem về tâu trình với Phụ Vương, nhưng Xa Nặc không chịu và đòi theo chân Thái tử. Cuộc đối thoại giữa hai Thầy trò Thái tử xảy ra với nhiều chi tiết thật lâm ly, bi thiết dằng dai kể từ nơi chuồng ngựa cho đến bên giòng A Nô Ma. Bởi tình nghĩa Thầy trò đâu có thể dễ dàng cắt đứt trong chốc lát. Nhưng qua sự giải thích lập trường dứt khoát của Thái tử, Xa Nặc đành phải chấp nhận yêu cầu của Thái tử để trở về với ngựa Kiền Trắc và mái tóc, áo mão tư trang của Thái tử.

Sau khi Xa Nặc lui bước, với cõi lòng nặng trĩu đau buồn, Thái tử choàng tấm áo vải thô của người thợ săn và đi về phía rừng khổ hạnh, đến tu với Đạo sĩ Bạt Gia. Thế là Thái tử hoàn toàn chấm dứt cuộc đời vương giả, với bạc vàng châu báu, cung phi mỹ nữ, xa hẳn tình nghĩa gia đình, cha mẹ vợ con. Ðó là một bước ngoặc lịch sử bi hùng nhất trong cuộc đời của Thái tử Tất Ðạt Ða với sứ mạng tìm phương pháp Giải thoát cho chính mình và nhân loại chúng sinh. Thái tử phát lời thề nguyện: "Nếu chưa tìm ra chân lý và đạo Giải thoát cho nhân thế, ta sẽ không trở về thăm Ca Tỳ La Vệ". - Lúc bấy giờ, Thái tử 29 tuổi.

III. Nhận Thức Và Kết Luận.

Cuộc thoát ly "ngục vàng" này của Thái tử Tất Ðạt Ða thật vô cùng vĩ đại. Vì từ xưa đến nay đâu có một Ðế Vương nào chịu từ bỏ cuộc sống xa hoa, cung tần mỹ nữ, vợ đẹp con ngoan, trừ một Trần Nhân Tôn của Việt Nam cách Phật 10 thế kỷ (Trần Nhân Tôn nhường ngôi cho con để vào tu tại núi Yên Tử năm Kỷ Hợi 1299).

Trong thực tế con người đầy tham, sân, si, chấp ngã cho nên trước ngũ dục, ít người giữ được đạo đức Vô ngã, vị tha. Thái tử Tất Ðạt Ða thoát được Hoàng cung là do Thái tử đã quyết liệt, tự chiến đấu với chính bản thân, với bao tình cảm ràng buộc của Vua Tịnh Phạn, của Da Du, của người thân cận như Xa Nặc... Thái tử ra đi cũng không phải do một thiêng liêng nào thúc đẩy hộ trì, mà do đức tính Từ bi Trí tuệ và dũng cảm của Thái tử. Bởi khi du ngoạn 4 cửa thành, Thái tử đã chứng kiến cảnh một người già, một người bịnh, một người chết và một Đạo sĩ thanh cao, tự tại, Giải thoát...

Ba hình ảnh đầu khai thị cho Thái tử. Hình ảnh sau cùng giới thiệu cho Thái tử một con đường dẫn đến Giải thoát sinh, già, bịnh, chết. Bởi thế, Thái tử quyết chí xuất gia và thành đạo với danh hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Trên đường du hóa Ðức Phật đã nói Kinh Thánh Cầu để phác họa lại hình ảnh những luẩn quẩn của Thân trong vòng khổ đau: Sinh, già, bịnh, chết, như sau:

"Này các Tỳ kheo, Ta cũng vậy trước khi Giác ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ tát, tự mình bị sinh lại tìm cầu cái bị sinh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bịnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm. Này các Tỳ kheo: Rồi ta suy nghĩ như sau: Tại sao Ta tự mình bị sinh, lại cầu cái bị sinh, tự mình già, tự mình bịnh... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm... Vậy Ta tự mình bị sinh sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sinh, hãy tìm cầu cái không sinh, Vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết bàn. Tự mình bị già... cái không già, tự mình bị bệnh... cái không bệnh, tự mình bị sầu... cái không sầu, tự mình bị ô nhiễm... cái không ô nhiễm, Vô thượng an ổn bởi các khổ ách, Niết bàn. (Trung bộ Kinh 1- 163/HT. Thích Minh Châu dịch).

Qua tư duy về sinh, già, bịnh, ưu sầu, ô nhiễm của cuộc sống, Thái tử Tất Ðạt Ða quyết tâm xuất gia để giải quyết các ưu tư, Kinh Thánh Cầu lại ghi:

"Rồi này các Tỳ kheo! Trong thời gian Ta còn nhỏ trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời mặc dầu cho Cha Mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp đồ Cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Ta xuất gia như vậy, để đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu Vô thượng tối thắng an định đạo lý tối thắng, hướng đến tịch tĩnh".

Câu Hỏi Thảo Luận

1. Tại sao Thái tử Tất Ðạt Ða xuất gia?

2. Vua Tịnh Phạn đã ngăn cản bước tiến xuất gia của Thái tử Tất Ðạt Ða bằng cách nào?

3. Trước giờ ra đi, Thái tử Tất Ðạt Ða đã thấy gì và làm gì?

4. Bên giòng A Nô Ma Thái tử Tất Ðạt Ða làm gì?

5. Qua cuộc thoát ly xuất gia tìm đạo của Thái tử, chúng ta có suy nghĩ gì?