Home Lịch Sử Phật Giáo Phật Giáo Việt Nam Triết học Trần Thái Tông
28 | 08 | 2008
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Bookmarks
 
 
 
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật Giáo và Đời Sống
Văn Học và Nghệ Thuật
Triết học Trần Thái Tông PDF. In Email
Lịch Sử Phật Giáo - Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam
Viết bởi Nguyễn Đăng Thục   
Chỉ mục bài viết
Triết học Trần Thái Tông
Khái Quát
Quan niệm của nhà Nhập thế
Tất cả các trang
Thấy Trẫm, Quốc sư mừng vui hớn hở thong thả bảo Trẫm rằng: “Lão tăng ở rừng núi lâu xương cứng, thể gầy, ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh rừng, lòng nhẹ như mây nổi nên mới theo gió vào đây. Nay nhà vua bỏ địa vị Nhân chủ, nghĩ đến cảnh quê mùa rừng núi, hẳn có muốn tìm hỏi gì mới đến đây?”

Trẫm nghe sư nói, hai hàng nước mắt tự nhiên không cầm được, nhân mới đáp rằng: “Trẫm còn thơ ấu, sớm mất hai thân, trơ vơ đứng trên sĩ dân, không chỗ nương tựa. Nghĩ lại sự nghiệp của Đế vương đời trước thịnh suy không thường, cho nên vào núi này chỉ cầu làm Phật, không cầu vật chi khác. ”

Sư đáp: Núi vốn không có Phật, Phật tồn nơi tâm, tâm yên lặng mà biết ấy gọi là Phật thật. Nay nếu nhà vua giác ngộ được tâm này thì lập tức thành Phật không phải khó nhọc tìm ở bên ngoài vậy.”

 “Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình và tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón nhà Vua về cung, nhà Vua không về sao được? Tuy nhiên sự tìm hiểu về nội điển của Phật giáo xin mong bệ hạ đừng phút nào quên!”


Triết học Trần Thái Tông

Nguyễn Đăng Thục

Tác phẩm của Trần Thái Tông còn lưu truyền đến nay chỉ gồm có Bộ Khóa Hư Lục và hai bài thơ sót lại của quyển Trần Thái Tông ngự tập đã thất lạc.

Về Bộ Khóa Hư Lục, Trần Văn Giáp trong Bulletin de Société des Etudes Indochinoises, Nouvelle série TXIII n. 1, 1938 ở mục truyện ký loại có viết như sau: "Tác phẩm do Trần Thái Tông viết về sự chiêm ngưỡng những vẻ đẹp của thiên nhiên và về vấn đề sống chết. Sách viết vào thời kỳ Trần Thái Tông nhường ngôi để chuyên vào học tập Thiền.

Chúng tôi còn giữ được ba bảng của sách ấy. Bản thứ nhất là một bản viết tay nhan đề Thiền Tông Khóa Hư Lục, ghi chú Tào Động Thiền Tông và một bài tựa vô danh, vào năm thứ ba Đức Long, Tân Mùi (1631) cùng một mục lục của 3 quyển. Sau đấy có một nhan hiệu nữa là Thái Tông Hoàng Đế ngự chế Khóa Hư Lục và thêm ghi chú "do Thận trai Thiền tử Đạo hiệu là Huệ Tĩnh tự Vô Dật giải ra chữ Nôm".

Toàn tập có kèm bài hậu bạt không tác giả và không niên lịch. Hai bản khác mang nhãn hiệu là "Khóa Hư Tập". Bản thứ nhì là bản in gỗ có bài tựa cùng năm ấy của Nguyễn Thận Hiên, đạo hiệu là Đại Phương và theo phẩm tước thì là Nguyễn Đăng Giai. Bản sau cùng do nhà sư Phúc Điền xuất bản cùng thời ấy". (Trần văn Giáp phụ khoa EFEO)

Và E. Gaspardonne, hội viên E. F. E. O cũng viết trong (Biliographie Annamite) "Thư tịch Việt Nam rằng:

"Tác phẩm ấy cũng có nhan đề là Khóa Hư Tập Trần Thái Tông viết sau khi đã thoái vị rút vào Thiền học, khoảng năm 1258 – 1277 theo Việt sử tiêu án của Ngô thời Sĩ, Phan Huy Chú Q. 45 tờ 1 và sử ký Q. 5 tờ 49, năm Bảo phù thứ 5. Người ta thấy có nhiều mộc bản của chùa về một tác phẩm cùng tên ấy gán cho Trần Thái Tông. Sách chia làm ba quyển chừng bốn mươi mấy tờ với bài tựa năm Minh Mạng thứ 21 (1840) của Tổng đốc Nguyễn Thận Hiên pháp danh Đại Phương với lời giải bằng chữ nôm của nhà sư An Thiền, chùa Đại Giác. Thận Hiên là một tên hiệu, có lẽ là Nguyễn Đăng Giai. Có một bản viết tay của E. F. E. O. với một bài tựa vô danh vào năm Long Đức thứ ba (1734) và một bài giải bằng chữ Nôm của nhà sư Tuệ Tĩnh. Bài tựa của Tổng đốc Nguyễn giải nhan đề sách như sau: "Tâm đương hư dã, thời bất khả hư dã, nhi công khóa vưu bất khả thời khắc hư dã. " "Lòng nên hư không, thường không có thể hư không được mà công phu học tập càng không có thể có một phút hư không được vậy. " (Xem bản dịch bài tựa của Thận Hiên)

Về tác phẩm thứ hai của Trần Thái Tông là Ngự Tập thì Phan Huy Chú có nhận định rằng thơ văn ở đấy có một thể văn sáng sủa và vận điệu trong trẻo. Để chứng minh Phan Huy Chú có dẫn một bài thơ mà nhà vua tặng nhà sư ở am Thanh Phong. Bài thơ ấy được sưu tập trong "Việt âm thi tập" ở trong Hoàng Việt thi tuyển. "Việt âm thi tập" có dẫn một bài thứ hai của Trần Thái Tông, tặng cho sứ Tàu Trương Hiển Khanh (Tống Bắc sứ Trương Hiển Khanh).

Trên đây là những nhận định có căn cứ chính xác có phê phán khoa học về tác giả của sách Khóa Hư Lục. Gần đây có kẻ nêu lên ý kiến hoài nghi vu vơ không căn cứ vào đâu cả. Ví dụ Thiều Chửu, dịch giả Khóa Hư Lục viết:

"Nguyên văn chữ Hán chép là của Vua Trần Thái Tông soạn, nhưng "căn cứ" vào sử và xét đến bài lúc thăm cụ Huyền Quang ở Yên tử và mấy lời đức Trần Hưng Đạo mời về thì sách này là của vua Trần Nhân Tông soạn. Dịch giả đem ba bản Khóa Hư Lục ra mà xét, để tìm lấy sự thực, thì dám cả quyết rằng những bản chép của vua Thái Tông là sai".

(Thái Tông Hoàng Đế ngự chế Khóa Hư kinh. Dịch giả Thiền Chửu diễn nghĩa. Nhà in Hưng Long Sài Gòn 19/ 4/ 61)

Lời phê bình trên đây thật là vô lý và hàm hồ. Căn cứ vào sử nào mà thấy có việc Hưng Đạo vào Yên tử mời vua Nhân Tông về? Trái lại sử chỉ chép Trần Nhân Tông có những tác phẩm như "Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục", "Đại Hương Hải ấu Thi Tập", "Tăng Già Toái Sự", "Thạch Thất Mỵ Ngữ". Tuyệt nhiên không thấy sử nào chép tác phẩm Khóa Hư Lục là của Trần Nhân Tông cả. Vả lại bài "Thiền Tông chỉ nam tự" còn sờ sờ đó, nội dung lời lẽ của ai? Ai bị ép lấy chị dâu để phải bỏ vào núi! Ai là bạn của Quốc sư Phù Vân? Ai mồ côi từ sớm? Tư tưởng trong "Thiền tông chỉ nam tự" có hợp với tư tưởng trong sách "Khóa Hư Lục" không? Giọng thơ văn của Thái Tông và Nhân Tông khác nhau thế nào. Sự việc cách nhau một đời vua Thánh Tông (1259 – 1294) làm sao có thể lẫn lộn được?

Nay xét vào nội dung của những tác phẩm trên để tìm hiểu mạch lạc tư tưởng của tác giả xem có thật xứng danh là "Bó đuốc Thiền học Việt Nam" không? Và Thiền học của tác giả có những đặc điểm gì?

TRIẾT HỌC TRONG BÀI "THIỀN TÔNG CHỈ NAM TỰ"

Phiên dịch:

Trẫm trộm nghĩ Phật coi như chân lý thì không có phân biệt ra Nam phương hay Bắc phương, đều có thể cầu tìm được. Tính người ta sinh ra có người trí người ngu, nhưng cùng tư bẫm khả năng giác ngộ. Bởi thế mà giáo lý của Phật ta để dạy quần chúng mê lầm phương tiện giải thoát, đường tắt thấu tỏ lẽ sống chết. Trách nhiệm nặng của Thánh hiền trước là cầm cân công lý cho đời này, làm khuôn phép cho đời sau vậy. Cho nên Lục Tổ Tuệ Năng đã có nói: "Tiên Đại Thánh nhân dữ Đại sư vô biệt nghĩa là Đại Thánh với Đại sư không có gì phân biệt. " Đủ biết giáo lý của Phật ta lại mượn tay Thánh Hiền để truyền bá ra đời. Nay Trẫm làm sao có thể không lấy trách nhiệm của Tiên Thánh làm trách nhiệm của mình, giáo lý của Đức Phật làm giáo lý của mình?

Vả lại Trẫm đây từ trẻ thơ mới có trí hiểu biết, sớm đã được nghe lời dạy của Thiền sư liền lắng suy tư dẹp nghĩ ngợi, rất mực thanh tĩnh, có tâm chuyên vào nội giáo, hỏi han xem xét về Thiền Tông. Lòng vô tư tìm thầy, thành tín mộ Đạo. Tuy bấy giờ ý chí nội hướng đã manh nha mà động cơ cảm xúc còn chưa đạt được.

Năm mười sáu tuổi thì Thái hậu, mẹ Trẫm đã chán cõi đời. Trẫm những nằm rơm, gối đất, khóc ra máu mắt, lòng đau như cắt. Đang lo phiền đau đớn không còn nghĩ đến chuyện gì. Được vài năm thì Thái tổ cha Trẫm lại cũng tạ thế. Thương mẹ chưa khuây, xót cha càng thấm thía. Bồi hồi ngao ngán khó nguôi nỗi lòng. Trẫm nghĩ tình cha mẹ đối với con: vỗ về, nuôi nấng chẳng thiếu bề gì. Đời làm con dẫu nát xương tan thịt chưa đủ báo đền muôn phần được một. Huống chi Trẫm xét Thái Tổ Hoàng Đế mở dựng cơ nghiệp đã rất khó khăn, sửa nước giúp đời lại càng hệ trọng. Từ khi Ngài đem ngôi báu trao cho Trẫm còn lúc trẻ thơ, Trẫm những sớm khuya canh cánh lo sợ không một lúc nào yên lòng. Riêng thầm nghĩ: “Ở trên đã không còn cha mẹ để nương nhờ, thì ở dưới cũng e không đáp ứng nổi sự mong mỏi của dân chúng. Biết tính sau đây? Rồi cố tìm, cố nghĩ: âu là lui về núi rừng, tìm về Phật giáo để hiểu rõ bí quyết của sống chết mà báo đáp công đức cù lao, được thế chẳng cũng hay lắm sao?”

Bấy giờ ý chí của Trẫm đã nhất quyết. Hiệu Thiên Ứng Chính bình thứ Năm (1245), năm Bính Thân, đêm mồng ba tháng tư, Trẫm nhân mặc áo mỏng thường đi ra cửa cung bảo người hầu tả hữu: "Ta muốn đi chơi, nghe trộm lời dân để xem nguyện vọng của họ, họa may biết được sự khó nhọc của chúng. " Lúc ấy chẳng qua đi theo bên Trẫm độ bảy, tám người. Đêm ấy vào giờ hợi, một mình một ngựa cất lẻn ra đi. Khi đã qua sông Nhị hà, liền hướng về phía Đông mà tiến, mới thật tình bảo cho tả hữu biết. Họ kinh ngạc, đều ứa nước mắt khóc lóc. Qua sáng hôm sau vào giờ mão thì đến bến đò Đại Than, dưới núi Phả lại. Trẫm e có kẻ nhận biết, nên phải lấy vạt áo che mặt mà qua sông, rồi theo đường tắt lên núi. Đến tối hôm ấy vào nghỉ trong chùa Giác Hạnh, đợi sáng lại đi. Trèo lội vất vả, núi hiểm, suối sâu, ngựa mệt không thể tiến được nữa. Trẫm bèn bỏ ngựa, vịn vào vách đá mà đi. Đến giờ Mùi mới tới Yên tử. Qua hôm sau trèo thẳng lên đỉnh, vào ra mắt Quốc sư Trúc Lâm là vị Đại Sa môn ở đây.

Thấy Trẫm, Quốc sư mừng vui hớn hở thong thả bảo Trẫm rằng: “Lão tăng ở rừng núi lâu xương cứng, thể gầy, ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh rừng, lòng nhẹ như mây nổi nên mới theo gió vào đây. Nay nhà vua bỏ địa vị Nhân chủ, nghĩ đến cảnh quê mùa rừng núi, hẳn có muốn tìm hỏi gì mới đến đây?”

Trẫm nghe sư nói, hai hàng nước mắt tự nhiên không cầm được, nhân mới đáp rằng: “Trẫm còn thơ ấu, sớm mất hai thân, trơ vơ đứng trên sĩ dân, không chỗ nương tựa. Nghĩ lại sự nghiệp của Đế vương đời trước thịnh suy không thường, cho nên vào núi này chỉ cầu làm Phật, không cầu vật chi khác. ”

Sư đáp: Núi vốn không có Phật, Phật tồn nơi tâm, tâm yên lặng mà biết ấy gọi là Phật thật. Nay nếu nhà vua giác ngộ được tâm này thì lập tức thành Phật không phải khó nhọc tìm ở bên ngoài vậy.”

Bấy giờ Trần Công là chú của Trẫm, em họ Tiên quân, được Tiên quân gửi gắm con côi. Sau khi Tiên quân về Trời, bỏ lại cõi đời và quần thần, Trẫm tôn chú lên làm Thái sư (Tể tướng). Thái sư nghe tin Trẫm đi khỏi, bèn chia các ngả sai tả hữu đi tìm khắp mọi nơi dấu tích. Họ bèn tìm vào trong núi này. Gặp Trẫm, Trần Công thống thiết nói: “Tôi chịu lời ủy thác của Tiên quân, phụng sự nhà vua, làm chủ thần dân. Nhân dân đang mong đợi ở bệ hạ như con đỏ trông đợi cha mẹ. Huống chi ngày nay các cố lão trong triều đình đều là họ hàng thân thích cả, sỉ thứ trong nước thảy đều vui vẻ phục tòng, đến cả đứa trẻ lên bảy tuổi cũng đều biết nhà vua là cha mẹ dân. Vả lại Thái tổ vừa mới bỏ tôi, hòn đất trên nấm mồ chưa ráo, lời dặn dò bên tai còn văng vẳng. Thế mà Bệ hạ trốn lánh vào rừng núi, ẩn cư để cầu thỏa lấy ý chí của mình. Tôi dám nói: Bệ hạ vì mục đích tu lấy cho riêng mình mà làm thế thì được, nhưng còn Quốc gia xã tắc thì sao? Ví để lời khen suông cho đời sau thì sao bằng lấy chính thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ? Nhà vua nếu không nghĩ lại, quần thần chúng tôi cùng nhân dân xin cùng chết ngay hôm nay, quyết không trở về. ”

Thấy Thái sư và các Bô lão, quần thần đều không có ý bỏ Trẫm, Trẫm mới đem lời Thái sư nói với Quốc sư. Quốc sư nắm lấy tay Trẫm mà rằng: “Phàm làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình và tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón nhà Vua về cung, nhà Vua không về sao được? Tuy nhiên sự tìm hiểu về nội điển của Phật giáo xin mong bệ hạ đừng phút nào quên!” Bởi vậy Trẫm với mọi người trong nước lại trở về kinh, cố gắng bước lên ngôi báu, ròng rã trong mười mấy năm trời, mỗi khi có cơ hội nhàn rỗi việc nước, Trẫm lại tụ họp các bậc kỳ đức để hỏi Đạo Thiền, kinh sách các tôn giáo chính, không sót chỗ nào không tham cứu tìm tòi. Trẫm thường ngày tụng đọc kinh Kim Cương, có lần đọc đến câu: “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” nên sinh cái tâm không có cố chấp. Đang lúc đặt quyển xuống ngâm thì chợt khoát nhiên tự ngộ. Bỗng nhiên tự sáng, mới đem giác ngộ ấy làm thành lời ca này đặt tên là “Thiền Tông chỉ nam.” Năm ấy Quốc sư ở núi Yên Tử về kinh đô, Trẫm mời vào chùa Thắng Nghiêm để mở bản in các Kinh và đưa tập này cho sư coi. Coi rồi Quốc sư ngậm ngùi và nói: Tâm các vị Phật ở cả tại đây vậy, sao không khắc in để dạy cho hậu thế?

Trẫm nghe lời bèn sai thợ viết ra chữ Khải và truyền cho đem in, không phải chỉ dùng để dẫn bảo đường mê cho đời sau mà thôi, ý Trẫm còn muốn nối công nghiệp đức Tiên Thánh mà làm cho rộng thêm nữa. Nhân thế mời tự tay viết bài tựa này.

("Thiền Tông chỉ nam tự" - Tựa sách "Thiền Tông chỉ nam")

Bài tựa trọng đại trên đây của Trần Thái Tông đã toát yếu khúc triết tất cả triết lý Thiền của tác giả đã thực nghiệm ở chính bản thân trong cuộc đời hành động nhập thế. Nó gồm năm giai đoạn:

1/ Khái quát quan điểm Thiền của tác giả,

2/ Ý hướng cầu chân,

3/ Luận điệu của nhà xuất thế,

4/ Luận điệu của nhà nhập thế,

5/ Sự giác ngộ của tác giả.