| Cao Tăng Pháp Hiển |
|
|
|
| Lịch Sử Phật Giáo - Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới | ||||
| Viết bởi Thích Trí Quang | ||||
Trang 1 của 2 Truyện có cái tên rất ổn là Phật quốc ký, ghi về nước Phật. Tôi ngờ tên này mới do chính Ngài Pháp Hiển tự đặt.Ngài Pháp Hiển nói: “Thành tựu công nghiệp là vì biết quên cái mình trọng để trọng cái mình quên.” Cái gương quên mình cầu pháp của Ngài Pháp Hiển đã làm mối khuyến khích cho các vị khác, trong đó có Ngài Huyền Trang. Truyện của Ngài được viết cách nay 16 thế kỷ, đã được dịch ra Anh văn, Pháp văn và Đức văn. Truyện Ngài Pháp Hiển được viết cách nay 16 thế kỷ, thì dĩ nhiên truyền thuyết và huyền thoại đều nói như thật. Nhưng chất thật thì rõ ràng, và tôi ngờ rằng chất thật này Ngài Pháp Hiển đã lược bỏ chi tiết không ít. Thôi thì được sự tự ghi ngần này cũng thừa cho ta hiểu và cảm phục. Pháp Hiển tôi ngày trước ở Trường an, buồn vì Luật tạng quá thiếu, nên năm kỷ hợi [1], hiệu Hoằng thỉ thứ 2, cùng các pháp hữu Tuệ Cảnh, Đạo Chỉnh, Tuệ ứng, Tuệ Ngôi, nguyện đến Thiên Trúc tìm cầu Luật tạng... Cao Tăng Pháp Hiển
HT. Thích Trí Quang
Mục Lục:
Ghi Sau Khi Duyệt Truyện Cao Tăng Pháp Hiển Lời Dẫn Nội Dung Truyện Cao Tăng Pháp Hiển Tiểu Truyện Cao Tăng Pháp Hiển Ghi Sau Khi Duyệt Truyện Cao Tăng Pháp HiểnTrong khi dịch truyện Ngài Pháp Hiển, điều đáng tiếc là tôi không có bản Phật quốc ký địa lý khảo chứng của Thanh Đinh Khiêm, tác phẩm được Đinh Phúc Bảo và Lương Khải Siêu khen và giới thiệu. Nếu có thì địa danh trong truyện đã được tên mới cả. Cầu mong có ngày và có người làm việc này. Tại Ấn độ và tại Tích lan, Ngài Pháp Hiển đã tìm và chép những văn bản sau đây: 1. Luật của Đại Chúng Bộ, phong phú và đầy đủ nhất. 2. Luật của Thuyết Hữu Bộ, 7 ngàn Kệ. 3. Luận Tạp A Tì Đàm Tâm của Thuyết Hữu Bộ, 6 ngàn Kệ. 4. 1 Bộ Kinh, 2 ngàn rưỡi kệ. 5. Kinh Phương Đẳng Bát Nê Hoàn, 5 ngàn kệ. 6. Luận của Đại Chúng Bộ. 7. Luật của Sa di Tắc Bộ. 8. Trường A Hàm. 9. Tạp A Hàm. 10. Tạp Tạng. Lúc về, Ngài Pháp Hiển đi nhờ thuyền buôn, bị bão, lạc đường. Trên hải trình gian nguy, Ngài "chỉ sợ mất Kinh tượng, nên nhất tâm mà niệm Quan Âm đại sĩ". Rồi về nước thì dịch được 3 bộ "hơn trăm vạn chữ". "Những Kinh Luật Luận khác chưa được dịch ra". Chưa được dịch ra thì bất hạnh cho Pg Trung hoa. Nhưng bất hạnh hơn nữa là chưa được dịch ra mà không cất giữ được. So với việc tìm kiếm, sao chép, và đem về, thì việc cất giữ có khó khăn nguy hiểm gì đâu! Vậy mà không cất giữ được, tệ hơn nữa, không cất giữ, không có ý thức cất giữ! Sự tình như vậy không những chỉ đáng thống trách cho Pg Trung hoa, mà trước hết, thật đáng thống trách đối với công đức của bậc vĩ nhân Pháp Hiển. Mồng 9 tháng 5, 2537. Trí quang Lời Dẫn
Cái gương quên mình cầu pháp của Ngài Pháp Hiển đã làm mối khuyến khích cho các vị khác, trong đó có Ngài Huyền Trang. Truyện của Ngài được viết cách nay 16 thế kỷ, đã được dịch ra Anh văn, Pháp văn và Đức văn. Truyện có cái tên rất ổn là Phật quốc ký, ghi về nước Phật. Tôi ngờ tên này mới do chính Ngài Pháp Hiển tự đặt. Nhưng tên này chỉ thấy nói riêng, còn chính truyện thì ghi Cao Tăng Pháp Hiển truyện (Truyện của Cao Tăng Pháp Hiển) mang số hiệu 2085 của Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh (Chính 51/857-866). Ngoài ra còn 1 tiểu truyện do Cao Tăng truyện ghi (Chính 50/337-338). Tiểu truyện này tôi không trích dịch và phụ lục ra đây, vì có ghi mấy chi tiết mà tôi e rằng người ghi nghe thêm. Nếu mấy chi tiết đó mà Ngài Pháp Hiển tự ghi, thì truyện Ngài còn thiếu nhiều chi tiết lắm. Trở lại mà nói, truyện Ngài Pháp Hiển được viết cách nay 16 thế kỷ, thì dĩ nhiên truyền thuyết và huyền thoại đều nói như thật. Nhưng chất thật thì rõ ràng, và tôi ngờ rằng chất thật này Ngài Pháp Hiển đã lược bỏ chi tiết không ít. Thôi thì được sự tự ghi ngần này cũng thừa cho ta hiểu và cảm phục. Thế nhưng khi tôi dịch truyện Ngài Pháp Hiển thì thâm tâm muốn nói đến sự cứu hộ của Quan Âm đại sĩ sự cứu hộ mà còn có nhiều hơn nữa đối với Ngài Huyền Trang sau này. Mười chín tháng hai, 2534 (1991) Thích Trí Quang Nội Dung Truyện Cao Tăng Pháp Hiển
Triều đại Đông Tấn, Sa môn Thích Pháp Hiển tự ghi việc du hành Thiên Trúc
(1) Pháp Hiển tôi ngày trước ở Trường an, buồn vì Luật tạng quá thiếu, nên năm kỷ hợi [1], hiệu Hoằng thỉ thứ 2, cùng các pháp hữu Tuệ Cảnh, Đạo Chỉnh, Tuệ ứng, Tuệ Ngôi, nguyện đến Thiên Trúc [2] tìm cầu Luật tạng. Khởi đi từ Trường an, vượt đất Lũng, đến nước Càn qui, kiết hạ ở đó. Kiết hạ rồi đi tới nước Nhục đàn, vượt núi Dưỡng lâu, đến trấn Trương dịch. Trấn này bấy giờ đại loạn, đường sá không thông. Trấn vương ân cần, nên lưu lại cho vương làm thí chủ. Do vậy mà được gặp các Thầy Trí Nghiêm, Tuệ Giản, Tăng Thiệu, Bảo Vân, Tăng Cảnh, mừng vì đồng chí hướng nên cùng nhau kiết hạ. Kiết hạ rồi đi tới xứ Đôn hoàng. (2) Đôn hoàng từ Đông sang Tây chừng 80 dặm, từ Sa mạc có lắm gió nóng quái quỉ, gặp nhằm là chết, không ai toàn mạng. Trên không có chim bay, dưới không có thú chạy. Nhìn phía nào cũng ngút mắt. Muốn tìm hướng đi mà không biết nên đi về hướng nào, chỉ biết lấy xương khô của người chết làm dấu mà đi. Đi 17 ngày, kể có đến 1.500 dặm, thì đến được quốc gia Thiện thiện. Thiện thiện đất gập ghềnh, mỏng và xấu. Đồ mặc dân gian gần như Trung hoa (3] , chỉ khác cái áo dạ bện lông thành từng mảnh. Quốc vương tôn thờ Phật pháp. Cả nước có hơn 4.000 Tăng sĩ, tất cả đều là Tiểu thừa. Dân gian và Tăng sĩ đều làm theo cách của Thiên Trúc, chỉ tinh thô khác nhau. Từ Thiện thiện đi về hướng Tây, các nước đều như vậy. Chỉ ngôn ngữ [4] là bất đồng. Nhưng Tăng sĩ thì ai cũng học sách và tiếng Thiên Trúc. Dừng ở Thiện thiện 1 tháng thì đi theo hướng Tây Bắc, 15 ngày đến quốc gia Ô di. Nước này Tăng sĩ cũng có hơn 4.000 và cũng là Tiểu thừa. Phép tắc nghiêm chỉnh. Nhưng Tăng sĩ Trung hoa đến đây không dự vào Tăng chúng địa phương. Tôi được Công tôn lo liệu [5] nên dừng lại hơn 2 tháng. Và do vậy mà tại nước Ô di này được gặp lại nhóm Thầy Bảo Vân. Nhưng người Ô di thiếu lễ nghĩa, đãi khách rất bạc, nên các Thầy Trí Nghiêm, Tuệ Giản, Tuệ Ngôi, phải trở lại xứ Cao xương để kiếm hành trang. Tôi nhờ Công tôn cung cấp [6] nên đi thẳng về hướng Tây Vu điền nước giàu, dân thịnh, ai cũng tôn thờ Phật pháp, lấy niềm thích thú Phật pháp mà sống vui với nhau. Tăng sĩ có vài vạn, phần nhiều theo Đại thừa, và cùng ăn đồng chúng. Dân chúng cư trú như có phân bố. Nhà nào cũng xây Tháp nhỏ trước cửa, nhỏ nhất cũng cao đến vài trượng. Lại làm Tăng phòng cung cấp khách Tăng, kèm theo những đồ cần dùng khác. Quốc vương Vu điền sắp đặt cho chúng tôi ở Chùa [7] . Chùa này tên Cù ma đế, thuộc Đại thừa, có 3.000 Tăng sĩ, cùng ăn theo tiếng báo hiệu [8] . Vào nhà ăn thì uy nghi tề chỉnh, ngồi theo thứ lớp, và yên lặng hoàn toàn. Chén bát cũng không khua ra tiếng. Người [9] thêm đồ ăn cũng không gọi nhau mà chỉ lấy ngón tay ra dấu. Các Thầy Tuệ Cảnh, Đạo Chỉnh và Tuệ Đạt đã đi trước, hướng đến quốc gia Kiệt xoa. Còn chúng tôi muốn xem Đại lễ rước tượng nên đình lại 3 tháng. Vu điền có 4 Chùa lớn, chưa kể các Chùa nhỏ. Từ mồng 1 tháng 4, trong hoàng thành đã quét dọn đường sá, trang hoàng phường khóm. Trên cửa hoàng thành căng màn lớn, trang trí mọi sự. Quốc vương cùng hoàng hậu và thế nữ ở trong màn ấy. Tăng sĩ Chùa Cù ma đế là Đại thừa, quốc vương trọng vọng, nên rước tượng trước hết. Bằng cách cách hoàng thành ba bốn dặm, làm một cỗ xe 4 bánh, cao hơn 3 trượng, trông như cung điện di chuyển, với sự trang hoàng bằng 7 chất liệu quí báu, treo lụa, treo cờ và cắm lọng. Tượng Phật đứng trong xe, có 2 vị Bồ tát hầu và chư thiên hầu theo. Các tượng hầu cũng trau vàng bạc, treo lên trong không. Tượng Phật rước đến cách cửa hoàng thành 100 bước thì quốc vương lột vương miện, thay áo mới, đi chân không, cầm hoa hương, cùng tùy tùng ra khỏi hoàng thành, đón rước tượng Phật, đầu mặt lạy dưới chân tượng, rãi hoa, dâng hương. Khi tượng vào hoàng thành thì từ màn lớn trên cửa, hoàng hậu cùng thế nữ tung rãi các thứ hoa, rơi xuống nườm nượp. Sự trang trọng hiến cúng như vậy mỗi xe mỗi khác, đối với tất cả các xe sau này. Mỗi Chùa rước tượng 1 ngày, khởi từ mồng 1 đến 14 tháng 4 mới hết. Rước tượng hết rồi quốc vương và hoàng hậu mới về cung. Phía Tây hoàng thành Vu điền, cách bảy tám dặm có Chùa tên Vương tân, kiến thiết đã 80 năm, trải qua 3 triều vua mới hoàn thành. Chùa cao 25 trượng, chạm khắc văn vẽ, thếp phủ vàng bạc, sử dụng mọi thứ ngọc mà làm thành. Chùa có Tháp lớn, sau Tháp lớn là điện Phật, trang hoàng tốt đẹp, cột kèo cửa ngõ toàn thếp bằng vàng. Lại cất riêng Tăng phòng, cũng tráng lệ hết nói. Quốc vương 6 nước phía Đông Tuyết sơn có bảo vật gì giá trị nhất cũng phần nhiều hiến tặng Chùa Vương tân này, chứ dùng đến rất ít. Hết tháng 4, Đại lễ rước tượng xong rồi, một mình Thầy Tăng Thiều đi theo đạo sĩ người Hồ mà đến nước Kế tân. Còn chúng tôi đi đến quốc gia Tử hợp. Đi đường 25 ngày thì đến. Quốc gia ấy quốc vương tinh tiến, Tăng sĩ hơn 1.000, phần nhiều là Đại thừa. Dừng lại ở đây 15 ngày, chúng tôi đi về hướng Nam, 4 ngày thì đến lĩnh vực Tuyết sơn [10] . Trong lĩnh vực này, trước hết chúng tôi đến kiết hạ tại quốc gia Huy. Kiết hạ rồi đi theo đường núi 25 ngày, đến quốc gia Kiệt xoa, gặp nhau với nhóm Thầy Tuệ Cảnh, lại đúng vào lúc quốc vương Kiệt xoa tổ chức Ban giá việt. Ban giá việt, tiếng Trung hoa là Đại hội 5 năm 1 lần. Khi đại hội thì mời chư Tăng mọi nơi cùng đến vân tập. Vân tập rồi chỗ ngồi chư Tăng được trần thiết, treo lụa, treo cờ và cắm lọng. Lại làm hoa sen bằng vàng bằng bạc đặt sau chỗ ngồi chư Tăng, trải lên trên chỗ ngồi ấy những tấm tọa cụ sạch sẽ. Quốc vương cúng dường đúng phép trong 1 tháng, 2 tháng hay 3 tháng, và phần nhiều cử hành vào mùa xuân. Cúng dường rồi, quốc vương lại khuyến khích quần thần cúng dường trong 1 ngày 2 ngày cho đến 7 ngày. Sau đó quốc vương đem ngựa của mình cho trọng thần cưỡi, lại đem lụa trắng, mọi thứ quí giá, và những vật dụng cần dùng của chư Tăng, cùng quần thần phát nguyện cúng dường chư Tăng, rồi xin chư Tăng mà chuộc lại [11] những thứ quí giá. Kiệt xoa là xứ lạnh vì Tuyết sơn, không thể sản xuất những thứ lúa khác, mà chỉ có lúa mạch. Chư Tăng làm lễ thọ tuế [12] rồi là sương giá đổ xuống, nên quốc vương xứ ấy thường thỉnh chư Tăng đến mùa lúa mạch chín mới làm lễ thọ tuế. Kiệt xoa lại có ống nhổ của Phật, làm bằng đá, màu sắc như bát ứng khí của Phật. Lại có 1 cái răng Phật, được quốc dân xây Tháp tôn thờ. Kiệt xoa có hơn 1.000 Tăng sĩ, toàn là Tiểu thừa. Từ Tuyết sơn trở về hướng Đông, phục sức dân gian cũng gần giống Trung hoa [13], cũng chỉ khác nhau ở cái áo dạ. Phép tắc Tăng sĩ thì càng gần Tuyết sơn càng tinh hơn lên, không thể ghi hết. Kiệt xoa là quốc gia chính giữa lĩnh vực Tuyết sơn. Từ Tuyết sơn tới trước, cỏ cây trái hạt đều khác Trung hoa, chỉ 3 thứ tre, lựu và mía là giống. Từ Kiệt xoa đi về hướng Tây là hướng về Bắc bộ Thiên Trúc. Chúng tôi đi đường 1 tháng thì vượt qua Tuyết sơn. Tuyết sơn có tuyết cả mùa Đông và mùa hè, lại có rồng độc, phật ý là phun gió độc, mưa tuyết, thổi bay lên cát, sỏi và đá, gặp phải thì vạn người không còn một. Vì vậy mà thổ dân gọi là Tuyết sơn. (3) Vượt qua Tuyết sơn rồi, chúng tôi đến lĩnh vực Bắc bộ Thiên Trúc. Mới vào lĩnh vực này thì có 1 quốc gia nhỏ tên là Đà lịch, cũng có Tăng sĩ và toàn là Tiểu thừa. Quốc gia này, xưa kia, có 1 vị La hán dùng thần thông lực đưa 1 người thợ bậc Thầy lên cung Đâu suất quan sát Di lặc đại sĩ, coi cao thấp mặt mũi thế nào, rồi về xuống tạc tượng đại sĩ bằng gỗ. Trước sau lên xuống quan sát 3 lần, tượng mới hoàn thành. Tượng cao 8 trượng, mu bàn chân dài đến 8 thước [14] , những ngày chay thường có ánh sáng. Các vị quốc vương đua nhau cúng dường, và đến nay vẫn còn tại quốc gia Đà lịch. Chúng tôi lại xuôi theo hướng Tây Nam Tuyết sơn, đi 15 ngày. Đường đi gian nan, cao và nguy hiểm. Núi toàn đá, dựng đứng như vách, và cao đến cả ngàn nhẫn. Nhìn hoa cả mắt. Muốn bước tới thì không biết đặt chân vào đâu. Phía dưới lại có sông Tân đầu. Người xưa có kẻ xoi đá thông đường, đặt thang bên cạnh, có đến 700 nấc [15] . Vượt thang rồi, bước nhẹ trên giây treo lớn mà qua sông. Sông thì 2 bờ cách nhau gần 80 bước. Cửu Dịch ghi chép, Trương Mạch và Cam Anh đời Hán, đều không đến đây. Chư Tăng có người hỏi tôi, rằng có thể biết được sự mở đầu của Phật pháp đi về hướng Đông [15b] chăng. Tôi nói, tôi hỏi người Đà lịch thì ai cũng nói, các bậc già và xưa tương truyền rằng, từ khi tạo lập tượng Di Lặc đại sĩ thì tự có Tăng sĩ Thiên Trúc mang Kinh luật vượt qua sông Tân đầu này. Tượng được tạo lập quãng bách kỷ thứ 3 sau Phật nhập diệt, tính ra là thời đại Bình vương nhà Châu. Do đó mà nói thì Phật pháp lưu hành qua hướng Đông là bắt đầu từ tượng Di Lặc đại sĩ. Phi đại sĩ kế tiếp qụ đạo của đức Thích Tôn thì ai làm cho Phật pháp được lưu thông để người biên địa cũng biết Phật pháp? Thế mới biết thầm kín mở đầu cho vận hội Phật pháp vốn không phải là việc của con người. Và thế thì cái mộng của Minh đế nhà Hán cũng có nguyên ủy mà có. Qua sông Tân đầu là đến quốc gia Ô trường [16] . Ô trường là chính Bắc bộ Thiên Trúc. Cả nước nói tiếng trung bộ Thiên Trúc. Trung bộ Thiên Trúc là vùng được gọi là xứ trung tâm [17] . Dân gian Ô trường ăn với mặc cũng giống trung bộ Thiên Trúc. Phật pháp rất thịnh. Gọi chỗ ở của chư Tăng là Chùa, và có đến 500 Chùa, toàn là Tiểu thừa. Nếu có Tỳ kheo khách đến thì ai cũng được cúng dường 3 ngày. Sau đó mới yêu cầu khách tự liệu cho yên chỗ. Trong quốc gia Ô trường thường tương truyền với nhau, rằng Phật đến Bắc bộ Thiên Trúc là đến quốc gia này. Phật để dấu chân lại ở đây, và dấu chân ấy thấy dài hay ngắn là tùy tâm niệm của người nhìn. Dấu chân ấy hiện nay vẫn còn như vậy. Lại có viên đá Phật phơi y, có chỗ Phật hóa độ rồng dữ, tất cả hiện nay vẫn còn. Viên đá Phật phơi y thì cao 1 trượng 4 thước, rộng chừng 2 trượng, một bên bằng phẳng. Các Thầy Tuệ Cảnh, Tuệ Đạt và Đạo Chỉnh đi trước, hướng đến nước có ảnh của Phật là quốc gia Na kiệt, còn chúng tôi kiết hạ tại quốc gia Ô trường này. Kiết hạ rồi đi xuống phía Từ Tú ha đa đi về hướng Đông 5 ngày thì đến quốc gia Kiền đà vệ, nơi trị vì của vương tử Pháp ích, con A dục vương. Khi Phật làm Bồ tát thì tại đây đã lấy mắt cho người. Cái chỗ Phật làm việc ấy cũng được dựng Tháp lớn, trang sức vàng bạc. Kiền đà vệ phần nhiều theo Tiểu thừa. Từ Kiền đà vệ đi về hướng Đông 7 ngày thì đến quốc gia Trúc sát thi la. Trúc sát thi la, Trung hoa dịch nghĩa là cắt đầu. Khi Phật làm Bồ tát, tại đây đã cắt đầu cho người, nhân đó mà có cái tên ấy. Lại đi 2 ngày nữa về hướng Đông thì đến chỗ Phật đem thân cho cọp đói ăn. Cả 2 chỗ này cũng được dựng Tháp lớn, cũng trang sức bằng các thứ vàng ngọc. Quốc vương, đại thần và dân chúng các nước đua nhau cúng dường, rãi hoa và thắp đèn liên tục không dứt. Gồm với 2 Tháp ở trên, người Trúc sát thi la gọi là 4 ngôi Tháp lớn. Từ Kiền đà vệ mà đi về hướng Bát ứng khí của Phật cũng ở quốc gia Phất lâu sa. Xưa kia, quốc vương Nhục chi đem đại quân đến đánh quốc gia Phất lâu sa là muốn chiếm lấy bát ấy. Đánh thắng rồi, quốc vương Nhục chi, với lòng tín ngưỡng Phật pháp, muốn đem bát đi nên cúng dường rất lớn. Cúng dường rồi, quốc vương cho trang hoàng voi lớn, đặt bát lên trên. Nhưng voi mọp xuống, không bước tới được. Quốc vương lại làm cỗ xe 4 bánh để chở bát. Cỗ xe có 8 con voi kéo, cũng không đi tới được. Quốc vương biết cơ duyên của mình với bát của Phật chưa đến, rất hổ thẹn và than thở. Tức thì ngay nơi chỗ này, quốc vương Nhục chi xây Tháp và Chùa, đặt người trấn giữ, và cúng dường nhiều cách. Chùa ấy chư Tăng có hơn 700. Hằng ngày mặt trời sắp đứng bóng thì chư Tăng thỉnh bát ra cho dân chúng cúng dường, rồi mới ăn cơm ngọ. Chiều tối, khi đốt hương cũng làm như vậy. Bát ấy của Phật có thể chứa 2 đấu. Màu sắc tổng hợp mà đen nhiều hơn, 4 phía rõ ràng, và dày chừng 2 phân. Bát rất tươi sáng. Người nghèo bỏ một ít hoa là đầy. Người giàu muốn cúng nhiều hoa, thì dẫu bỏ đến trăm ngàn vạn hộc cũng không đầy. (4) Các Thầy Bảo Vân và Tăng Cảnh cúng dường bát của Phật rồi là trở về. Các Thầy Tuệ Cảnh, Tuệ Đạt và Đạo Chỉnh đã đi trước đến quốc gia Na kiệt cúng dường ảnh Phật, răng Phật và xương đỉnh đầu của Phật. Thầy Tuệ Cảnh bịnh, Thầy Đạo Chỉnh ở lại chăm sóc. Chỉ một mình Thầy Tuệ Đạt trở về nước Phất lâu sa gặp nhau. Nhưng rồi các Thầy Tuệ Đạt, Bảo Vân và Tăng Cảnh trở về Trung hoa. Thầy Tuệ Cảnh có lẽ mất [18] tại Chùa thờ bát của Phật. Do vậy mà chỉ còn một mình tôi đi tới chỗ có xương đỉnh đầu của Phật. Đi theo hướng Tây, 16 do tuần thì đến quốc đô Hê la, thuộc quốc gia Na kiệt. Trong quốc đô Hê la có Tinh xá tôn trí xương đỉnh đầu của Phật. Tinh xá được thếp toàn vàng, trang sức bằng 7 thứ quí báu. Quốc vương Na kiệt kính trọng xương đỉnh đầu của Phật, sợ người cướp đoạt, mới bảo 8 người vọng tộc trong nước, mỗi người giữ một khuôn dấu, đóng dấu phong giữ. Cứ mỗi sáng sớm, 8 người cùng đến kiểm sát khuôn dấu của mình rồi mới mở cửa. Cửa mở rồi, dùng nước thơm rửa tay, thỉnh xương đỉnh đầu của Phật đặt ngoài Tinh xá, trên tòa cao, với cái dĩa tròn bằng 7 thứ quí báu, dưới cái dĩa ấy có cái chuông bằng lưu ly úp trên tòa cao [19] . Tất cả đều trang sức bằng ngọc châu không tròn. Xương đỉnh đầu của Phật màu vàng trắng, vuông tròn 4 tấc, phía trên nổi lên. Mỗi ngày, sau khi thỉnh ra, người trong Tinh xá lên lầu cao, gióng trống lớn, thổi bầu lọ, gõ bảng đồng. Quốc vương nghe thì đến Tinh xá đem hoa hương cúng dường. Cúng dường rồi đội trên đỉnh đầu, tuần tự đi vào cửa Đông và ra cửa Tây. Sáng nào quốc vương cũng cúng dường lễ bái như vậy rồi mới lâm triều thính chính. Hàng cư sĩ trưởng giả cũng cúng dường rồi mới lo việc nhà. Ngày ngày như vậy chưa bao giờ nhác, mệt. Cúng dường rồi thì thỉnh xương đỉnh đầu của Phật vào lại trong Tinh xá. Ở đây có cái Tháp tên Giải thoát, làm bằng 7 thứ quí báu, khi mở khi đóng, cao cỡ 5 thước, dùng để tôn trí xương ấy. Trước cửa Tinh xá, sáng nào cũng có người bán hoa hương. Ai muốn cúng dường thì mua. Quốc vương các nước khác cũng thường phái sứ giả đến cúng dường. Chỗ Tinh xá vuông 40 bước, trời rung đất lở gì chỗ ấy cũng bất động. Từ quốc đô Ha lê đi về hướng Bắc 1 do tuần thì đến quốc đô của quốc gia Na kiệt. Quốc đô này vốn là chỗ Bồ tát dùng tiền bằng bạc mua 5 cánh hoa cúng dường đức Định quang Như Lai [20] . Trong quốc đô cũng có Tháp răng Phật, cũng được cúng dường như cách cúng dường xương đỉnh đầu của Phật. Đông Bắc quốc thành, đi 1 do tuần thì đến 1 cửa hang, trong đó tôn trí tích trượng của Phật. Tại đây cũng xây Tinh xá cúng dường. Tích trượng làm bằng gỗ đàn hương ngưu đầu, dài cỡ 1 trượng 6 hay 7, bọc bằng gỗ xoi ống, và cả trăm cả ngàn người nhắc lên cũng không nổi. Từ cửa hang đi về hướng Tây, thì là nơi có cái y Tăng già lê của Phật, cũng được xây Tinh xá cúng dường. Tục Na kiệt, hễ trời đại hạn thì quốc dân cùng nhau thỉnh y ra, lễ bái cúng dường, tức thì trời đổ mưa lớn. Phía Ở lại đây 3 tháng mùa Đông rồi, tôi cùng 2 Thầy [21] đi về hướng Tôi cố sức đi tới, qua được Tuyết sơn nhỏ, đi về phía Từ đây đi về hướng Đông Quốc vương các nước Thiên Trúc phía Tây sa mạc đều tín ngưỡng Phật pháp, cúng dường chư Tăng. Có khi các vị ấy bỏ vương miện, cùng thân quyến và quần thần tự tay bưng dọn đồ ăn cúng dường chư Tăng. Bưng dọn rồi, các vị ấy trải tấm lót xuống đất, ngồi đối diện thượng tọa và chư Tăng, chứ không dám ngồi trên giường ghế. Thời đại của Phật, phong cách các quốc vương cúng dường thế nào thì đến nay vẫn truyền lại thế ấy cho nhau. (5) Từ đây xuôi về hướng Từ sau khi Phật nhập diệt, các quốc vương, trưởng giả và cư sĩ làm Tinh xá cho chư Tăng, cung cấp ruộng đất, nhà cửa, vườn tược, người giúp, bò trâu, chứng khoán, văn khế. Các thế hệ sau của các quốc vương cũng truyền lại cho nhau như vậy, không ai phế bỏ việc cúng dường ấy, nên đến nay vẫn còn. Chư Tăng có phòng ốc, giường chăn, thực phẩm, y phục, không thiếu gì cả, và nước nào cũng đều làm như vậy. Chư Tăng thì thường lấy công đức làm công việc, tụng Kinh, ngồi thiền. Khách Tăng đến thì chư Tăng cũ đón tiếp, mang giúp y bát, cấp nước rửa chân, dầu xoa chân, và nước nghiền trái hạt dùng lúc phi thời. Ngay sau đó lại hỏi số tuổi thọ giới, rồi theo thứ tự của tuổi ấy mà khách Tăng được cấp phòng thất, đồ nằm và những thứ khác, đúng như cách thức trong luật. Chỗ chư Tăng ở thì xây Tháp các Ngài Xá lợi phất, Đại mục liên, A nan đà, lại xây Tháp Luận, Luật, Kinh. Sau một tháng kiết hạ thì những người cầu phước khuyến hóa cúng dường, cúng dường nước nghiền trái hạt dùng lúc phi thời. Chư Tăng thường tổ chức đại hội thuyết pháp. Thuyết pháp rồi cúng dường Tháp Ngài Xá lợi phất bằng hương hoa, đốt đèn suốt đêm, lại kiếm người biết đóng tuồng diễn lại cảnh khi Ngài Xá lợi phất đang làm Bà la môn đến Phật xin xuất gia. Đối với các Ngài Đại mục liên và Đại ca diếp cũng làm như vậy. Các Tỳ kheo ni phần nhiều cúng dường Tháp Ngài A nan đà, bởi vì Ngài này đã thỉnh cầu Phật cho phép nữ nhân xuất gia. Các Sa di thì phần nhiều cúng dường Ngài La hầu la. Học luận thì cúng dường luận. Học luật thì cúng dường luật. Mỗi năm cúng dường 1 lần, và ai có ngày ấy. Đại thừa thì cúng dường Kinh Đại bát nhã, Bồ tát Văn thù và Bồ tát Quan Âm. Chư Tăng làm lễ thọ tuế rồi, trưởng giả, cư sĩ, bà la môn, vân vân, đem những thứ y áo và vật dụng mà chư Tăng cần dùng, đến cúng dường chư Tăng. Chư Tăng nhận rồi, ai cũng tự làm bố thí. Từ khi Phật nhập diệt đến giờ, những phong cách phép tắc mà thánh chúng [26] hành trì, đều được thừa truyền cho nhau chứ không bỏ mất. (6) Qua sông Tân đầu rồi là đến lĩnh vực Phật vì lãnh thọ thực phẩm chư thiên đến 3 tháng, nên thân Ngài tỏa ra hương thơm chư thiên, không còn như nhân gian. Do đó, Ngài tắm rửa thân mình, và sau người ta làm một cái nhà tắm ở chỗ ấy. Nhà tắm hiện nay vẫn còn. Cái chỗ Tỳ kheo ni Ưu bát la lạy Phật đầu tiên, nay cũng được dựng Tháp. Khi Phật còn, có Tháp dựng chỗ Ngài cắt tóc và móng tay. Chỗ 3 đức Phật quá khứ và đức Phật Thích ca ngồi thiền và Kinh hành, chỗ tạo hình tượng các đức Phật, cũng đều có Tháp, và đến nay vẫn còn cả. Chỗ Đế thích và Phạn thiên theo Phật về xuống, cũng được dựng Tháp. Có một trú xứ mà Tăng ni có quãng 1.000 người, đều ăn đồng chúng, và học tổng hợp Đại thừa Tiểu thừa. Trú xứ này có con rồng tai trắng, làm thí chủ cho Tăng ni, bằng cách làm cho quốc gia Tăng già thi lúa má phong phú, trái hạt chín nhiều, mưa gió đúng lúc, không gây tai họa. Do vậy mà Tăng ni yên ổn. Tăng ni cảm cái ơn ấy nên làm cho rồng 1 cái Tinh xá, trong có đặt chỗ ngồi. Tăng ni lại làm phước cho rồng bằng cách sắm sửa trai soạn và thay rồng cúng dường Tăng ni. Hằng ngày Tăng ni phái 3 vị đến trong Tinh xá của rồng mà thọ thực. Mỗi năm kiết hạ rồi, rồng hóa làm rắn nhỏ, hai bên tai đều trắng. Tăng ni biết là rồng. Bèn lấy bồn đựng sữa đặt rồng vào, đem đến khắp thượng tọa và hạ tọa, rồng đều mọp xuống, như thể kính chào. Chào khắp rồi rồng ẩn. Mỗi năm rồng hiện một lần. Làm cho Tăng già thi nước giàu, dân thịnh, yên vui rất mực. Người các nước khác đến đây, không ai mà không được lo liệu, cung cấp những gì cần dùng. Cách trú xứ nói trên, 50 do tuần về hướng Tây Bắc, có 1 ngôi Chùa tên Đại phần. Đại phần là tên một ác quỉ. Ác quỉ này vốn đã được Phật giáo hóa. Người sau dựng Tinh xá chính nơi chỗ giáo hóa này, và đem hiến cho 1 vị La hán. Vị này lấy nước rửa tay, nước nhỏ giọt xuống đất, chỗ này vẫn còn như cũ, quét trừ đi cũng thường hiện lên chứ không mất. Chỗ này lại có riêng 1 Tháp Phật, quỉ thần tốt thường rưới quét, chưa bao giờ phải cần đến sức người. Có 1 quốc vương ngoại đạo nói, rằng đã thế thì ta cho nhiều binh sĩ đến ở đây để dồn thêm phân bẩn, coi các người quét rưới hết không. Quỉ thần tốt tức thì nổi gió lớn, thổi cho sạch hết. Chỗ này lại có 100 Tháp phụ, nhỏ. Người ta đếm suốt ngày cũng không biết được. Ai quyết ý muốn biết thì bên mỗi Tháp đặt 1 người rồi đếm. Người ít hay nhiều gì rồi cũng không biết được. Có 1 ngôi Chùa có đến sáu bảy trăm Tăng sĩ. Chùa có chỗ vị Duyên giác ngồi ăn, đất mềm và lớn bằng bánh xe lớn, mấy chỗ khác mọc cỏ, độc chỗ này không mọc. Lại có chỗ đất vị Duyên giác ấy phơi y, cũng không mọc cỏ, và dấu y ăn xuống đất đến nay vẫn còn. Tôi kiết hạ tại Tinh xá của rồng. Kiết hạ rồi đi tới theo hướng Đông Qua sông Hằng rồi đi về hướng Từ đây đi về hướng Đông (7) Từ quốc đô Sa kỳ đi về hướng Ra cửa Nam của quốc đô, đi 1 ngàn 200 bước, thì phía Tây của đường đi là chỗ trưởng giả Tu đạt kiến thiết Tinh xá. Tinh xá mở cửa hướng Đông. Hai bên cửa có 2 trụ đá. Trên trụ bên trái tạc hình bánh xe, trên trụ bên phải tạc hình con bò. Hai bên trái phải của Tinh xá là nước hồ chảy trong sạch, cây cối còn tươi, và những thứ hoa thì có màu sắc khác nhau. Toàn khu Tinh xá xanh tốt khả quan. Và đó chính là nơi được gọi là Tinh xá Kỳ hoàn. Khi Phật lên Đao lợi, thuyết pháp cho mẹ Ngài 90 ngày, Ba tư nặc vương vì nhớ và muốn thấy Phật, nên tạo tượng Phật bằng gỗ đàn hương ngưu đầu, tôn trí nơi chỗ Phật ngồi. Khi Phật về, vào Tinh xá thì tượng ấy liền tránh đi và ra đón Phật. Phật bảo, Ngài cứ ngồi yên chỗ của Như Lai. Sau khi Như Lai nhập diệt, Ngài hãy làm chuẩn tắc cho 4 bộ đệ tử của Như Lai coi mà tạo tượng. Tượng lại ngồi lại chỗ của Phật Tượng này là đầu tiên của các tượng, người sau đều bắt chước. Phật thì do vậy mà dời qua ở Tinh xá nhỏ phía Tinh xá Kỳ hoàn vốn có 7 tầng. Quốc vương và quốc dân các nước đua nhau cúng dường. Treo lụa, treo phan, cắm lọng, rãi hoa, đốt hương, đốt đèn sáng luôn, và ngày ngày đều như vậy, không bao giờ ngừng. Nhưng rồi bị chuột tha tim đèn, làm cháy phan lọng, cháy lan cả Tinh xá, 7 tầng cháy hết. Quốc vương và quốc dân các nước vô cùng buồn rầu, nghĩ rằng vị tượng đàn hương cũng bị cháy. Nhưng bốn năm ngày sau, mở cửa Tinh xá nhỏ bên Đông, bỗng thấy tượng ấy, nên ai cũng mừng hết sức. Bèn chung nhau trùng tu Tinh xá được 2 tầng, rước tượng về lại chỗ cũ. Tôi cùng Thầy Đạo Chỉnh lần đầu tiên đến Tinh xá Kỳ hoàn. Nghĩ xưa kia Phật ở nơi đây đến 25 năm, mà mình sinh chậm, lại sinh ở xứ biên địa, cùng các Thầy đồng chí hướng trải qua các nước, có người về, có người chết, ngày nay mới đến đây và thấy được chỗ Phật ở mà không thấy Phật nữa, lòng xiết bao bi cảm. Chư Tăng trong Tinh xá ra hỏi chúng tôi, rằng các vị từ nước nào đến đây, tôi trả lời từ nước Trung hoa. Chư Tăng than rằng thật là kỳ lạ, người biên địa mà có thể đi cầu pháp và đến đây. Tây Bắc Tinh xá, cách 4 dặm có khu rừng tên là Được mắt. Xưa kia có 500 người mù dựa Tinh xá mà ở đây. Phật thuyết pháp cho, và ai cũng phục hồi được mắt. Họ vui mừng, cắm gậy xuống đất. Gậy liền sinh trưởng cây lớn. Dân chúng trọng những cây ấy, không ai dám chặt, nên thành khu rừng, và lấy sự được phục hồi mắt mà đặt tên. Chư Tăng Tinh xá Kỳ hoàn ăn ngọ rồi phần nhiều đến ngồi thiền trong khu rừng này. Đông Bắc Tinh xá Kỳ hoàn, cách sáu bảy dặm, bà Tỳ xá khư làm Tinh xá thỉnh Phật và chư Tăng, chỗ này vẫn còn. Đại viện của Tinh xá Kỳ hoàn có 2 cửa, 1 hướng ra phía Đông, 1 hướng ra phía Bắc. Khu vườn rừng Kỳ viên là chỗ trưởng giả Tu đạt trải tiền vàng mà mua đất. Tinh xá được kiến thiết chính giữa, và Phật ở đây lâu nhất. Những chỗ Phật thuyết pháp, độ người, Kinh hành, ngồi thiền đều dựng Tháp cả, và đều có tên gọi. Lại có cả chỗ Tôn đà liết mình để phỉ báng Phật. Ra cửa Đông Tinh xá, đi 70 bước thì phía Tây của đường đi là chỗ mà xưa kia Phật luận nghị với 96 học phái ngoại đạo, quốc vương, đại thần, cư sĩ và dân chúng vân tập ở đây mà nghe. Bấy giờ một nữ nhân ngoại đạo tên Chiên giá ma na, sinh tâm ganh ghét, mới độn áo trước bụng như người có thai, đến giữa đại hội mà phỉ báng Phật. Đế thích liền hóa ra chuột trắng, cắn giây thắt lưng. Giây đứt, áo độn rơi xuống đất, đất nứt ra, và nữ nhân đang sống mà vào địa ngục. Rồi lại có chỗ Điều đạt dùng móng tay có thuốc độc muốn hại Phật, cũng bị đang sống mà vào địa ngục. Tất cả những chỗ như vậy người sau đều có làm dấu. Riêng chỗ nghị luận thì dựng Tinh xá cao chừng 6 trượng, trong đó có tượng Phật ngồi. Phía Đông của đường đi có 1 ngôi đền của ngoại đạo, được gọi là Bóng che. Đền này đường hẹp mà đối diện với Tinh xá, và cũng cao chừng 6 trượng. Gọi là Bóng che, là vì mặt trời ở hướng Tây thì bóng Tinh xá của Phật chiếu qua che đền ngoại đạo, còn mặt trời ở hướng Đông thì bóng đền ngoại đạo chiếu qua hướng Bắc, không thể nào che được Tinh xá của Phật. Ngoại đạo thường phái người giữ đền, quét rưới, đốt hương, thắp đèn mà dâng cúng. Nhưng sáng sớm đèn ấy dời qua trong Tinh xá của Phật. Ngoại đạo tức giận, nói đây là Tăng sĩ lấy đèn của ta mà cúng dường Phật, và lại làm hoài như thế. Ngoại đạo do vậy mà ban đêm tự rình chờ. Thì thấy chính thiên thần họ thờ đem đèn đi nhiễu quanh Tinh xá của Phật 3 vòng mà cúng dường. Cúng dường rồi biến mất. Ngoại đạo mới biết Phật lớn hơn thiên thần, tức thì thoát ly gia đình mà xuất gia trong Phật pháp. Lại có tương truyền rằng, gần đây có việc này cốt làm rối Tinh xá Kỳ hoàn. Tinh xá Kỳ hoàn có 18 Tăng xá, Tăng xá nào cũng có chư Tăng ở, chỉ có 1 Tăng xá trống. Mà trung bộ Thiên Trúc có 96 học phái ngoại đạo, ai cũng biết hiện tại và vị lai, cũng có đồ đệ, cũng khất thực nhưng không cầm bát ứng khí, cũng cầu phước bằng cách làm nhà phước đức bên đường lớn, với đủ phòng thất, giường nằm, đồ ăn, thức uống, cung cấp cho người đi đường, người xuất gia, và khách qua lại, nhưng kỳ vọng của họ khác với chư Tăng. Riêng Điều đạt cũng có đồ chúng, nhưng cúng dường 3 đức Phật quá khứ [27] mà không cúng dường đức Phật Thích ca [28] . Đông Nam quốc đô Xá vệ, cách 4 dặm, là nơi mà khi Lưu ly vương muốn đánh nước Xá di, Phật đứng bên đường đón can, chỗ Ngài đứng cũng được xây Tháp. Phía Tây quốc đô Xá vệ, cách 50 dặm, đến 1 ấp tên Đô duy, đây là chỗ đức Phật Ca diếp giáng sinh, chỗ Ngài gặp thân phụ, chỗ Ngài nhập diệt, và tất cả các chỗ đều có dựng Tháp. Xá lợi toàn thân đức Phật Ca diếp cũng được dựng Tháp lớn. Đông Nam quốc đô Xá vệ, đi 12 do tuần, thì đến 1 ấp tên Na tì đà, đây là chỗ đức Phật Câu lâu tần giáng sinh, chỗ Ngài gặp phụ thân, chỗ Ngài nhập diệt, các chỗ này cũng đều xây Tháp. Từ ấp này mà đi về hướng Bắc, gần 1 do tuần, thì đến một ấp là chỗ đức Phật Câu na hàm mâu ni giáng sinh, chỗ Ngài gặp phụ thân, chỗ Ngài nhập diệt, đều được dựng Tháp cả. (8) Từ đây mà đi về hướng Đông, gần 1 do tuần, thì đến quốc đô Ca duy la vệ. Trong quốc đô bây giờ không vua, dân cư thưa thớt, chỉ có chư Tăng và mươi hộ dân cư mà thôi. Thế nhưng chỗ cố cung Bạch tịnh vương có tạc tượng mẫu hậu của thái tử Tất đạt và tượng thái tử cưỡi voi trắng vào thai mẹ; chỗ thái tử đi ra cửa Đông quốc thành gặp bịnh nhân nên quay xe trở về, các chỗ này cũng đều dựng Tháp, kể cả chỗ A di coi tướng thái tử. Chỗ thái tử cùng các ông Nan đà đấu voi, bắn cung và tên bay về phía Đông Nam 30 dặm, cắm xuống đất làm cho nước suối ngầm vọt lên, người sau sửa chữa làm giếng cho người đi đường uống. Chỗ thái tử thành Phật rồi về thăm phụ vương; chỗ 500 con trai họ Thích xuất gia rồi hướng về tôn giả Ưu ba ly mà làm lễ thì địa chấn nổi lên đủ 6 hình thức; chỗ Phật thuyết pháp cho chư thiên, 4 vị Thiên vương giữ 4 phía làm cho phụ vương của Ngài cũng không vào được; chỗ Phật ngồi dưới cây Ni câu luật, xoay về hướng Đông cho bà Đại ái đạo cúng dường Tăng già lê, thì cây ấy nay vẫn còn; chỗ Lưu ly vương tàn hại họ Thích, họ Thích chết thì ai cũng được đạo quả Tu đà hoàn; tất cả những chỗ này đều được dựng Tháp, và những Tháp ấy nay vẫn còn cả. Đông Bắc quốc đô Ca duy la vệ, cách vài dặm có ruộng của vua, là chỗ thái tử đã ngồi dưới cây quan sát người cày. Xa ra 50 dặm nữa về hướng Đông quốc đô Ca duy la vệ, là hoa viên của vua. Hoa viên có tên Luận dân. Mẫu hậu thái tử vào hồ của hoa viên, tắm rửa rồi lên bờ phía Bắc, đi 20 bước, cất tay vin nhánh cây, hướng về phía Đông mà sinh thái tử. Thái tử xuống đất thì đi 7 bước, có 2 long vương tắm cho. Chỗ tắm ấy thành giếng, và cả hồ tắm nói trên nữa, nay chư Tăng thường lấy nước uống. Chư Phật thì có 4 chỗ thường có, một là chỗ thành chánh giác, hai là chỗ chuyển pháp luân, ba là chỗ luận nghị thắng ngoại đạo, bốn là chỗ về xuống khi lên Đao lợi thuyết pháp cho mẹ. Những chỗ khác thì chỉ là thị hiện tùy thời cơ mà thôi. Quốc gia Ca duy la vệ bây giờ hoang vắng, dân chúng thưa thớt, đường sá đáng sợ vì voi trắng và sư tử, không thể đi ẩu được. Từ chỗ Phật giáng sinh mà đi về hướng Đông, cách 5 do tuần thì có 1 quốc gia tên Lam mạc. Quốc vương của quốc gia này cũng được một phần xá lợi của Phật, đem về dựng Tháp và gọi là Tháp Lam mạc. Cạnh Tháp có hồ, trong hồ có rồng, thường giữ Tháp ấy, ngày đêm cúng dường. A dục vương ra đời, muốn phá 8 Tháp Xá lợi để làm 84.000 Tháp; phá 7 Tháp rồi muốn phá Tháp này, thì rồng hiện thân, đưa A dục vương vào cung điện của mình, cho nhìn đồ mình cúng dường, rồi nói nhà vua cúng dường mà hơn như thế thì cứ phá Tháp mà lấy xá lợi, tôi không giành với nhà vua. A dục vương biết đồ cúng dường này không phải thế gian có được, nên đành trở lui. Chỗ này hoang vu, không ai rưới quét, chỉ có bầy voi lấy vòi hút nước rưới đất, lại lấy hoa hương gì có được mà cúng dường Tháp. Có 1 Tăng sĩ nước khác đến đây, muốn lạy Tháp, gặp voi thì sợ quá, núp gốc cây mà nhìn, thấy voi cúng dường đúng cách, mới rất bi cảm, rằng ở đây không còn Chùa nào để lo cúng dường Tháp này, đến nỗi voi phải rưới quét! Tăng sĩ ấy liền xả giới Tỳ kheo mà làm lại Sa di, tự kéo cỏ cây, sửa dọn chỗ này sạch sẽ, khuyến hóa quốc vương mình xây Chùa, rồi chính mình làm chủ ngôi Chùa ấy. Chùa hiện nay có chư Tăng ở. Việc này xảy ra gần đây, và từ đó đến nay thừa kế với nhau thường lấy Sa di làm chủ Chùa. Từ đây đi về hướng Đông, cách 3 do tuần, là chỗ thái tử bảo Xa nặc và ngựa trắng trở về, chỗ này cũng dựng Tháp. Từ đây đi về hướng Đông nữa, cách 4 do tuần là đến Tháp tro của Phật, cũng có Chùa ở đó. (9) Lại đi về hướng Đông nữa, cách 12 do tuần thì đến quốc đô Câu di na kiệt. Phía Bắc quốc đô này là rừng Song thọ, cạnh sông Hy liên thiền. Vùng này là chỗ Phật nằm xoay đầu hướng Bắc mà nhập diệt, chỗ người đắc đạo cuối cùng là Tu bạt, chỗ để kim quan của Phật mà cúng dường 7 ngày, chỗ Kim cang lực sĩ buông kim xử, chỗ 8 quốc vương phân chia xá lợi của Phật, tất cả chỗ này đều dựng Tháp, đều có Chùa, và nay hiện còn. Tuy nhiên, quốc đô Câu di na kiệt bây giờ dân chúng cũng ít ỏi, chỉ có một ít chư Tăng và hộ dân. Từ vùng này mà đi về Đông Nam, cách 12 do tuần thì đến chỗ mà các người Lê xa muốn đuổi theo Phật khi Ngài sắp nhập diệt, nhưng Phật không cho. Họ luyến mộ Phật mà không chịu về. Phật hóa ra hào sâu và lớn, họ không vượt qua được. Phật cho bát ứng khí để làm tin, bảo họ về nhà mà dựng trụ đá. Trên trụ đá có khắc đề như vậy. Từ đây mà đi về hướng Đông, 10 do tuần thì đến quốc gia Tỳ xá ly. Phía Bắc quốc đô Tỳ xá ly là Tinh xá trùng các Đại lâm. Đây là chỗ Phật từng ở, và là chỗ có Tháp nửa thân của tôn giả A nan. Trong quốc thành vốn có nhà của bà Yêm bà la, bà làm Tháp chỗ ấy hiến Phật, nay đang còn. Cách 3 dặm phía Nam quốc đô, phía Tây của đường đi, là chỗ bà Yêm bà la đem vườn hiến Phật, làm chỗ ở của Ngài. Khi sắp nhập diệt, Phật đi với đệ tử ra khỏi cửa Tây quốc đô Tỳ xá ly, xoay mình lại phía phải, nhìn quốc đô ấy mà nói với đệ tử, rằng đây là chỗ Như Lai đi lần cuối cùng. Người sau dựng Tháp chỗ này. Tây Bắc quốc đô, cách 3 dặm, có ngôi Tháp tên là Buông cung gậy. Có cái tên này là vì bên sông Hằng có 1 quốc vương. Hoàng hậu nhỏ của quốc vương sinh cái thai 1 khối thịt. Hoàng hậu lớn ganh ghét, bảo là sinh điềm xấu. Tức khắc đem bỏ vào cái hộp gỗ, ném xuống sông Hằng. Hạ lưu sông Hằng có 1 quốc vương đi du ngoạn, thấy hộp gỗ trôi nổi trên dòng nước, vớt mở xem thì là cả ngàn bé trai khỏe, đẹp. Quốc vương ấy đem về nuôi, lớn dần lên và rất khỏe mạnh, chinh phạt đâu cũng làm cho khuất phục. Kế đến chinh phạt nước của vua cha mình. Vua cha quá lo rầu, hoàng hậu nhỏ của vua hỏi lo rầu việc gì. Vua bảo, vua kia có ngàn đứa con trai, mạnh vô địch, muốn đánh nước ta nên ta lo rầu. Hoàng hậu nhỏ bảo đừng lo rầu làm gì. Hãy làm cái lầu cao phía Đông quốc thành, giặc đến thì để tôi trên lầu ấy, tôi có thể làm cho giặc lui đi. Vua làm như lời. Khi giặc đến thì hoàng hậu nhỏ ở trên lầu, bảo rằng các người là con ta, tại sao cố ý phản nghịch? Giặc bảo, bà là ai mà bảo là mẹ chúng tôi? Hoàng hậu nhỏ nói, nếu các con không tin, thì cứ ngước lên mà hả miệng ra. Hoàng hậu nhỏ liền hai tay vắt 2 vú, mỗi vú chảy ra 500 dòng sữa, và rơi cả vào miệng của ngàn đứa con. Giặc biết đích mẹ mình, liền buông bỏ cung và gậy. Hai vị quốc vương nhân đó mà tư duy, và thành 2 vị Duyên giác. Nay Tháp của 2 vị ấy đang còn. Sau này, khi Phật thành đạo rồi, bảo các đệ tử, rằng đây là chỗ mà Như Lai xưa kia đã cùng buông bỏ cung gậy. Người sau biết được như vậy nên dựng Tháp chỗ này, và đặt tên là Tháp Buông cung gậy. Ngàn đứa con thì chính là ngàn đức Phật trong hiền kiếp. Phật đứng cạnh Tháp Buông cung gậy mà bảo tôn giả A nan, rằng 3 tháng nữa Như Lai sẽ nhập diệt. Bấy giờ ma vương quấy rối tâm trí tôn giả A nan, làm cho tôn giả đã không biết xin Phật ở đời thêm nữa. Từ đây mà đi về hướng Đông, cách ba bốn dặm thì có 1 ngôi Tháp. Bách kỷ thứ 1 sau Phật nhập diệt, các vị Tỳ kheo quốc gia Tỳ xá ly làm sai giới luật bằng 10 sự, mà lại viện chứng rằng Phật đã dạy như vậy. Bấy giờ các vị La hán và những vị Tỳ kheo trì luật, có 700 tất cả, hội nhau tại đây mà tầm cứu luật tạng. Người sau dựng Tháp tại đây, và nay cũng hiện còn. Từ đây đi về hướng Đông, cách 4 do tuần, thì đến chỗ mà 5 dòng sông hợp lại. Tôn giả A nan từ quốc gia Ma kiệt hướng về quốc gia Tỳ xá ly, muốn nhập diệt ở quốc gia này. (10) Qua sông Hằng, đi xuống phía Có một vị Bà la môn Đại thừa tên là La thải tư mê, ở trong quốc đô của A dục vương. Người trí tuệ sáng láng, không việc gì không thấu triệt, và lấy sự thanh tịnh mà sống. A dục vương tôn kính, thờ như Thầy, nên đến thăm viếng thì không dám cùng ngồi. A dục vương kính trọng mà nắm tay đi nữa, Bà la môn Đại thừa cũng rửa tay. Năm vị này hơn 50 tuổi thì cả nước ngưỡng vọng. Chính nhờ 1 người như vậy tuyên dương pháp hóa của Phật mà ngoại đạo không thể lấn lướt chư Tăng. Bên cạnh Tháp A dục vương xây dựng, vị ấy dựng ngôi Chùa Đại thừa. Chùa rất tráng lệ. Cũng có Chùa Tiểu thừa. Gồm cả lại thì có sáu bảy trăm chư Tăng, uy nghi đàng hoàng, nhã quan. Bốn phương cao đức, sa môn và học giả, muốn cầu nghĩa lý thì đều đến Chùa Đại thừa. Thầy của vị Bà la môn Đại thừa cũng tên là Văn thù sư lợi. Cả nước, bao nhiêu đại đức sa môn và Tỳ kheo Đại thừa đều tôn thờ vị Thầy ấy. Vị Thầy ấy cũng ở tại Chùa Đại thừa. Các quốc gia trong lĩnh vực trung bộ Thiên Trúc, chỉ quốc đô Ba liên phất của quốc gia Ma kiệt đề là lớn nhất. Dân chúng giàu thịnh, đua theo nhân nghĩa, hằng năm lấy ngày 8 tháng 2 làm ngày rước tượng Phật. Làm cỗ xe 4 bánh, cột tre thành 5 tầng, chồng cao 2 trượng, hình dáng như cái Tháp. Trên quấn lụa trắng rồi vẽ hình chư thiên. Trang sức bằng bạc vàng, lưu ly, treo lụa, treo phan, cắm lọng. Bốn phía làm khám, trong có tượng Phật ngồi, tượng Bồ tát đứng hầu. Có đến 20 cỗ xe như vậy. Mỗi cỗ trang hoàng khác nhau. Vào ngày 8 tháng 2, Tăng tục toàn xứ đều hội diễn kịch nhạc, cúng dường hoa hương. Vị Bà la môn Đại thừa làm lễ thỉnh tượng Phật. Các cỗ xe tượng Phật tuần tự đi vào quốc đô, và ở đêm tại đây. Cả đêm đốt đèn, hiến cúng kịch nhạc. Nước nào cũng có đại lễ rước tượng như vậy. Trưởng giả và cư sĩ các nước cũng thiết lập ngay trong quốc đô của họ những ngôi nhà Phước đức và Y dược. Mọi người nghèo nàn, cô độc, tàn tật, bịnh hoạn, đều đến những ngôi nhà ấy và được cung cấp mọi sự. Y sĩ khám bịnh, chăm sóc, uống ăn và thuốc thang thích đáng, làm cho yên ổn. Lành rồi thì tự do mà đi. A dục vương phá 7 Tháp làm 84.000 Tháp. Tháp lớn xây dựng đầu tiên là ở phía Từ đây đi về phía Đông Từ đây đi về Tây (11) Từ đây đi về hướng Tây 1 do tuần thì đến quốc đô Vương xá mới. Quốc đô mới này do A xà thế vương kiến thiết. Trong quốc đô ấy có 2 ngôi Chùa. Ra cửa Tây quốc đô mới, đi 3 trăm bước, là chỗ A xà thế vương được một phần xá lợi của Phật đem về xây Tháp, cao lớn tráng lệ. Ra phía Núi Kỳ xà quật cao, xanh, hùng vĩ, và đây là ngọn cao nhất trong 5 ngọn núi. Ở trong quốc đô Vương xá mới, tôi mua hoa hương, dầu đèn, nhờ 2 vị Tỳ kheo cũ đưa đến núi Kỳ xà quật. Cúng dường hoa hương, đốt sáng dầu đèn rồi, tôi rất bi cảm, gạt nước mắt mà vái, xưa, tại đây, Phật đã nói Lăng nghiêm; con sinh không gặp Phật, ngày nay chỉ thấy được chỗ Phật để dấu vết lại mà thôi! Tôi liền tụng Lăng nghiêm trước hang đá. Và ngủ lại ở đây 1 đêm mới trở về quốc đô Vương xá mới. Rồi lại ra phía Bắc của quốc đô Vương xá cũ, đi hơn 3 trăm bước, thì phía Tây của đường đi là Tinh xá vườn tre Ca lan đà. Tinh xá đang còn, có chư Tăng quét rưới. Phía Bắc Tinh xá hai ba dặm là bãi Thi ma xa na. Thi ma xa na, Trung hoa dịch là Bãi mộ bỏ người chết. Ven theo núi phía Nam, đi về hướng Tây 3 trăm bước, thì có 1 phòng đá gọi là Tân ba la, là chỗ Phật thường ăn rồi ngồi thiền. Lại đi về hướng Tây năm sáu dặm, trong bóng im phía Bắc của núi có 1 hang đá, tên là Xa đế. Đó là chỗ 500 vị La hán kiết tập pháp tạng sau khi Phật nhập diệt. Khi kiết tập, đặt 3 ghế cao, trang nghiêm, bên trái vọng Ngài Xá lợi phất, bên phải vọng Ngài Đại mục liên, còn Ngài Đại ca diếp làm thượng tọa. Trong số 500 vị La hán còn thiếu 1 vị. Bấy giờ Ngài A nan đang đứng ngoài cửa, chưa được vào. Chỗ đứng này cũng được dựng Tháp, và nay vẫn còn. Ven theo núi còn có nhiều hang đá của chư vị La hán ngồi thiền. Ra phía Bắc quốc đô Vương xá cũ, đi xuống phía Đông 3 dặm, thì có hang đá của Điều đạt. Cách đó 50 bước có hang đá đen vuông lớn. Xưa có 1 Tỳ kheo Kinh hành trên hang đá này, tư duy thân là vô thường, khổ không, nên được bất tịnh quán, chán ghét thân này, liền cầm dao muốn tự sát. Nhưng nghĩ rằng Phật qui định giới luật cấm chỉ tự sát, lại nghĩ, nhưng đây là ta chỉ giết tên giặc đầy 3 độc tố. Liền đưa dao tự vẫn, mới đứt thịt thì được sơ quả, vào một nửa thì được tam quả, đã đứt thì thành La hán mà nhập diệt. (12) Từ đây mà đi về phía Tây 4 do tuần thì đến thành Già da, trong thành cũng hoang vắng. Lại đi về phía Từ đây đi về phía Đông Bắc, cách một nửa do tuần thì đến 1 hang đá, là nơi Bồ tát vào trong đó, hướng về phía Tây mà ngồi kiết dà, lòng nghĩ rằng nếu ta mà thành chánh giác thì hãy có sự linh nghiệm. Tức thì trên vách đá hiện ra bóng của Bồ tát, cao chừng 3 thước, đến nay vẫn còn sáng rõ. Bấy giờ trời đất đại động, chư thiên ở trong không gian mà thưa rằng đây không phải là chỗ chư Phật quá khứ và vị lai đắc thành chánh giác; cách đây về phía Tây Nam, đi gần nửa do tuần, đến dưới cây Bối đa [30] mới là chỗ chư Phật quá khứ vị lai đắc thành chánh giác. Chỗ Phật thành chánh giác rồi, 7 ngày nhìn cây Bối đa mà hưởng thụ cái vui giải thoát; chỗ Phật 7 ngày Kinh hành từ Đông sang Tây dưới cây Bối đa; chỗ chư thiên hóa ra đài thất bảo cúng dường Phật 7 ngày; chỗ rồng quấn quanh Phật 7 ngày; chỗ Phật ngồi dưới cây Ni câu luật, trên đá vuông, hướng về phía Đông, Phạn vương đến thỉnh cầu Ngài chuyển pháp luân; chỗ 4 vị thiên vương hiến bát ứng khí; chỗ 500 thương khách hiến miến, mật; chỗ Phật hóa độ Thầy trò cả ngàn người của anh em các Ngài Ca diếp; tất cả các chỗ như vậy cũng đều có Tháp dựng lên. Chỗ Phật thành chánh giác thì có 3 ngôi Chùa, đều có chư Tăng cư trú. Chư Tăng được dân chúng hiến cúng, không thiếu thốn gì. Giới luật lại nghiêm cẩn, phong cách cử động và cư xử toàn là do phong cách thánh chúng thời Phật dẫn đến ngày nay. Từ khi Phật nhập diệt cho đến bây giờ, chư Tăng 4 chỗ Tháp lớn vẫn thừa kế phong cách như vậy, không hề dứt mất. Bốn Tháp lớn là chỗ Phật giáng sinh, chỗ Phật thành chánh giác, chỗ Phật chuyển pháp luân, chỗ Phật nhập diệt. A dục vương đời trước, khi làm 1 bé con chơi giữa đường, gặp đức Phật Ca diếp đi khất thực, bé con hoan hỷ, vốc 1 vốc đất hiến Ngài. Đức Phật Ca diếp đem về tô mặt đất đường đi Kinh hành của mình. Do vậy mà kết quả kiếp này bé con được làm Thiết luân vương, thống quản đại lục Diêm phù. Vương cưỡi xe sắt thị sát Diêm phù, thấy sự trị tội của địa ngục giữa 2 dãy núi Thiết vi, liền hỏi quần thần chỗ đó là gì. Họ tâu, đó là chỗ quỉ vương Diêm la trị tội nhân. Vương nghĩ quỉ vương mà còn làm địa ngục trị tội nhân, ta đây là chúa tể loài người sao không làm như vậy. Vương hỏi quần thần, ai có thể làm chủ ngục mà trị tội nhân cho ta? Quần thần tâu rằng, chỉ có kẻ rất ác mới làm được. Vương liền sai quần thần tìm khắp đây đó cho ra 1 kẻ rất ác. Thì thấy bên hồ có 1 người rất lớn, khỏe, da đen, tóc vàng, mắt xanh, đang dùng chân câu cá, miệng hú chim thú. Chim thú bay chạy đến thì bắn giết liền, không con nào thoát được. Tìm được người như vậy rồi, quần thần dẫn về dâng vương. Vương mật sắc rằng, nhà ngươi hãy xây tường cao 4 phía, bên trong trồng những thứ cây hoa trái, lại làm hồ đẹp, trang sức sao cho ai cũng thích. Rồi làm cửa cho chắc, hễ ai vào thì bắt liền, trị tội đủ cách, đừng cho thoát ra. Cho dẫu ta vào đó cũng trị tội, không tha. Nay ta phong cho nhà ngươi làm chủ ngục đó. Bấy giờ có 1 vị Tỳ kheo tuần tự khất thực nên vào cửa ngục ấy. Chủ ngục bắt được liền muốn trị tội. Vị Tỳ kheo sợ hãi, xin hoãn chốc lát để ăn cơm ngọ. Thoáng cái, có 1 người vào, chủ ngục liền bắt bỏ vào cối mà giã, bọt đỏ chảy ra. Vị Tỳ kheo thấy vậy, tư duy cái thân thật vô thường, khổ không, như bóng, như bọt, liền đắc thành đạo quả La hán. Thế rồi chủ ngục bắt vị Tỳ kheo bỏ vào vạc sôi, vị ấy nhan sắc vẫn khoan hòa. Khi lửa tắt, nước nguội, thì thấy trong vạc có hoa sen, vị Tỳ kheo ngồi ở trên. Chủ ngục tức khắc chạy tâu vương, rằng trong ngục có 1 sự kỳ lạ, xin vua đến xem. Vương bảo, ta đã có lịnh rồi, nay không dám vào đâu. Chủ ngục tâu, việc này không phải nhỏ. Vua nên đến mau, và đổi bỏ lịnh cũ đi. Vương theo vào. Vị Tỳ kheo thuyết pháp cho vương. Vương tin hiểu, liền phá địa ngục, hối hận việc ác đã làm. Do vậy mà tin kính Tam bảo, thường đến dưới cây Bối đa mà sám hối, thọ giới Bát quan trai. Hoàng hậu hỏi vua thường đi đâu, quần thần tâu thường đến dưới cây Bối đa. Hoàng hậu liền rình lúc vương không có, sai người chặt ngã cây ấy. Vương đến thấy vậy thì ngã ra bất tỉnh. Quần thần rưới nước vào mặt, hồi lâu mới tỉnh. Vương liền dùng gạch nung xây 4 phía, đem cả trăm vò sữa bò mà rưới gốc cây. Vương lại nằm sải cả 2 tay 2 chân xuống đất, thề rằng cây Bối đa này không sống thì ta không đứng dậy. Thế rồi, cây ấy liền từ gốc mọc lên, và còn cho đến ngày nay, cao gần 10 trượng. (13] Từ đây đi về phía Từ ngày tôn giả Đại ca diếp vào trong núi Kê túc, thì núi này có các vị La hán đến ở. Chư Tăng các nước hằng năm đến đây cúng dường tôn giả. Ai thiết tha thì đêm có vị La hán đến, cùng nói chuyện, thảo luận, cởi mở thắc mắc cho rồi ẩn mất. Núi Kê túc có cây chăn um tùm, lại lắm sư tử, cọp sói, không thể đi ẩu. Tôi trở lại quốc đô Ba liên phất của quốc gia Ma kiệt đề, xuôi theo hướng Tây sông Hằng, đi xuống 10 do tuần, thì đến 1 Tinh xá tên là Khoáng dã, nguyên là chỗ Phật ở, nay đang còn chư Tăng. Lại xuôi theo hướng Tây sông Hằng mà đi 12 do tuần nữa, thì đến quốc đô Ba la nại của quốc gia Ca thi. Đông Bắc quốc đô này, cách chừng 10 dặm, là Tinh xá của Tiên nhân lộc dã uyển. Ở đây vốn có vị Duyên giác ở, lại thường có dã lộc đến ở lại. Khi Phật sắp thành chánh giác thì chư thiên ở trong không gian hô lên, rằng người con trai của Bạch tịnh vương xuất gia học đạo, 7 ngày nữa sẽ thành một đức Phật. Vị Duyên giác nghe rồi liền nhập diệt, nên gọi chỗ này là vườn Tiên nhân lộc dã. Sau khi Phật đắc đạo, thì nơi vườn ấy được xây dựng Tinh xá. Vì Phật đã đến vườn ấy để hóa độ nhóm 5 người Câu lân. Khi Ngài đến, 5 người bảo nhau, sa môn Cù đàm khổ hạnh 6 năm, mỗi ngày chỉ ăn một nhúm mè và gạo, mà chưa đắc đạo, huống chi nay đi vào dân gian, buông thả thân miệng ý thì có đạo sao được. Ngày nay đến đây, chúng ta cẩn thận, đừng tiếp chuyện. Nhưng khi Phật đến thì cả 5 người đều đứng dậy mà lạy. Lại đi qua hướng Bắc 60 bước, th&i |


