Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới
|
|
Viết bởi Thích Hằng Đạt
|
|
Hoàng giáo của Phật giáo Tây Tạng do Đại sư Tông Khách Ba sáng lập, có những điểm đặc sắc nhất là nghiêm thủ Giới luật Tỳ kheo thanh tịnh, thiết thật tu hành giới Bồ tát và giới Tam muội da (Kim cang) của Mật tông. Dùng giới làm nền tảng, rồi y theo thứ tự của giáo lý mà tu tập, tức là trước tu học Hiển giáo, sau hành trì Mật giáo, cùng cực lực xiển dương Chánh kiến Trung Quán-Ứng Thành và thuyết dung hợp của Kim cang Mật thừa. Bàn về yếu chỉ căn bổn, giáo pháp Hiển-Mật hợp nhất vô cấu của Đại sư vốn phù hợp với bản ý truyền thừa Mật pháp của Tôn giả A Để Sa: Hành giả Mật tông trước tiên phải học Hiển giáo để hiểu rõ giáo lý kinh luận, sau đó phải có đầy đủ tâm xuất ly thế gian và tâm Bồ đề, hầu mong có Chánh kiến căn bản về sự tu học Mật pháp, rồi mới bắt đầu dụng công tu tập Mật pháp. Tu học Mật pháp như thế, thì tự thân mới đắc được thành tựu. |
|
Đọc thêm...
|
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới
|
|
Viết bởi Võ Ðình Cường
|
|
Trịnh Thiện Quả hỏi: Ngươi muốn xuất gia để
làm gì?
Thưa, tôi muốn: xa, nối chí Phật Như Lai;
gần, hoằng dương chánh pháp.
Thế thì ngươi sẽ được như ý. Ta đặc cách độ
cho người làm Tăng.
Trịnh Thiện Quả đã làm đúng theo lời mình,
vì nhận thấy cái khí phách, trang mạo khác thường và cách đối đáp trôi chảy của
cậu bé. Ðể các vị giám khảo khỏi phản đối, ông giải thích:
Tùng nghiệp mà học cho thành thì dễ, chứ
phong cốt luyện được thì khó. Người này, nếu làm Tăng thì tất sẽ thành một bực
cao Tăng, đại đức trong chốn Thiền môn, không ai sánh kịp.
Trịnh Thiện Quả đã tiên đoán không sai, cậu
bé ấy sau này chính là Pháp Sư Huyền Trang, Ðường Tam Tạng, vị Sư Trung Hoa
danh tiếng nhất ở thế kỷ thứ bảy Tây lịch, người đã đi 50.000 dặm đường bộ,
trải qua 128 nước lớn nhỏ, 17 năm lưu học ở Ấn Ðộ, 18 năm trước tác, phiên dịch
không gián đoạn ở Trung Hoa, tổng cộng dịch được 75 bộ Kinh, gồm 1.335 quyển.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới
|
|
Viết bởi Thích Trí Quang
|
|
Năm 15 tuổi thế phát, thông suốt cả sách vở
thế gian, lại hay thơ và giỏi cách viết. Tiền bối có nhiều người kết giao làm
bạn, nhưng không khoảnh khắc nào đại sư không nhớ sinh tử là đại sự. Tính chí
hiếu. Mẹ mất, quỳ trước Phật tụng Kinh báo ân đến 7 thất. Hằng năm gặp ngày Vu
lan lại thiết cúng.
Một hôm đến Chùa Phổ Nhân, thấy một vị Tăng
ngã xuống đất, đại sư thấm thía cái lẽ vô thường nên càng tinh tiến. Năm 24,
thọ cụ túc giới tại Chiêu Khánh, nghiêm tập Giới luật, không rời y bát, ngày ăn
một bữa, thường không ngủ nghỉ.
Ai học thi văn thì đại sư thống trách,
“mạng người chỉ trong hơi thở ra vào, đâu có rãnh mà học tập văn tự thế gian;
sơ sẩy một chút là đã qua kiếp khác, muốn được giải thoát là vô cùng khó khăn.”
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới
|
|
Viết bởi Thích Thiền Tâm
|
|
Ngài từng bị đau mắt khi sanh ra vừa sáu tháng, sau tuy lành bịnh nhưng mục lực đã suy kém. Mắt vừa hơi đỏ, thì chỉ nhìn thấy cảnh vật lờ mờ. Lúc thọ giới Cụ túc, vì Ngài cẩn thận và viết chữ khéo, nên được cử làm chức thư ký. Do viết chữ quá nhiều, đôi mắt lại phát đỏ như huyết. Lúc trước nhân khi phơi kinh được xem bộ Long Thơ Tịnh Độ, biết rõ công đức Niệm Phật, nên kỳ thọ giới này, ban đêm sau khi chúng an nghỉ Ngài vẫn ngồi niệm Phật. Ban ngày cho đến lúc viết chữ, tâm cũng không rời Phật. Nhờ đó tuy đôi mắt phát đỏ, vẫn có thể gắng gượng biên chép. Khi giới đàn vừa mãn bịnh đau mắt cũng được lành. Do đây, Ngài biết công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn! Và nhân duyên này cũng là đầu mối khiến Ngài quy hướng Tịnh độ, và khuyên người niệm Phật.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới
|
|
Viết bởi Chánh Hạnh
|
|
Ngài Huệ Năng quay qua quan Biệt Giá nói:
"Muốn học đạo vô thượng không nên khinh người mới học. Hạng dưới đôi khi
có trí hơn bậc trên cùng. Bậc trên cùng cũng có khi trí kém. Nếu khinh người
thì có vô lượng vô biên tội."
Tổ giảng kinh Kim Cang, đến câu: "Nên không
trụ vào đâu mà sanh ra tâm của mình." Huệ Năng nghe qua, đại ngộ được lẽ:
Hết thảy muôn pháp đều chẳng rời khỏi tính tự nhiên, bèn bạch với Tổ: "Dè
đâu tánh tự nhiên vốn tự thanh tịnh, dè đâu tánh tự nhiên vốn chẳng sanh diệt,
dè đâu tánh tự nhiên vốn nó đầy đủ, dè đâu tánh tự nhiên vốn không lay động, dè
đâu tánh tự nhiên thường sanh muôn pháp."
Tổ biết Huệ Năng đã ngộ về bổn tánh nên bảo thêm:
"Kẻ nào chẳng biết bổn tâm thì học đạo vô ích. Nếu ai biết bổn tâm tự
nhiên, thấy bổn tánh tự nhiên, tức thị kêu là bực trượng phu là Thầy của Trời,
người là Phật."
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới
|
|
Viết bởi Thích Trí Quang
|
Truyện có cái tên rất ổn là Phật quốc ký, ghi về nước Phật. Tôi ngờ tên này mới do chính Ngài Pháp Hiển tự đặt.
Ngài Pháp Hiển nói: “Thành tựu công nghiệp là vì biết quên cái mình trọng để trọng cái mình quên.”
Cái gương quên mình cầu pháp của Ngài Pháp Hiển đã làm mối khuyến khích cho các vị khác, trong đó có Ngài Huyền Trang. Truyện của Ngài được viết cách nay 16 thế kỷ, đã được dịch ra Anh văn, Pháp văn và Đức văn.
Truyện Ngài Pháp Hiển được viết cách nay 16 thế kỷ, thì dĩ nhiên truyền thuyết và huyền thoại đều nói như thật. Nhưng chất thật thì rõ ràng, và tôi ngờ rằng chất thật này Ngài Pháp Hiển đã lược bỏ chi tiết không ít. Thôi thì được sự tự ghi ngần này cũng thừa cho ta hiểu và cảm phục.
Pháp Hiển tôi ngày trước ở Trường an, buồn vì Luật tạng quá thiếu, nên năm kỷ hợi [1], hiệu Hoằng thỉ thứ 2, cùng các pháp hữu Tuệ Cảnh, Đạo Chỉnh, Tuệ ứng, Tuệ Ngôi, nguyện đến Thiên Trúc tìm cầu Luật tạng... |
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới
|
|
Viết bởi Thích Thiện Hoa
|
|
...Nói đến Bắc
tông Phật giáo, thì quốc độ lớn nhất và có một ảnh hưởng quyết định đến những
nước chung quanh là Trung Hoa. Vậy muốn biết lịch sử truyền bá Phật giáo ở Bắc
phương hay Đại thừa Phật giáo, chúng ta không thể không nguyên cứu sự phát
triển, sự thăng trầm của đạo Phật ở Trung Hoa, từ khi đạo Phật mới du nhập vào
cái khối người đông đảo nhất thế giới này cho đến thời cận đại...
Nhưng phải đợi
đến đời Tây Tấn, Phật giáo Trung Hoa mới thấy được cái vẽ rực rỡ của thời kỳ
thịnh phát thứ nhất. Năm 310 Tây lịch, dưới đời nhà Tây Tấn, niên hiệu Vĩnh Gia
một vị cao Tăng từ Tây Vức là Ngài Phật Độ Trừng sang thuyết pháp được nhân dân
quy ngưỡng có hàng vạn người...
Dưới thời Nam
Bắc triều, Ngài Bồ Đề Đạt Ma đã từ Thiên Trúc sang truyền pháp Thiền Tôn, và là
vị tổ đầu tiên của phái này ở Trung Hoa; Ngài Tam Tạng Chơn Đế dịch truyền luận
Đại thừa Khởi tín, Ngài Đàm Vô Sấm dịch truyền Niết Bàn Tôn, Ngài Nam Nhạc đại
sư lập Thiên Thai Tôn. Đó là giai đoạn hưng thịnh thứ hai của Phật giáo Trung
Hoa...
Dưới thời
Đường, trừ một vài vị Vua, còn hầu hết các vị khác, vị nào cũng ủng hộ, sùng
bái đạo Phật, và đạo Phật được thâm nhập một cách mạnh mẽ trong dân gian. Xét
trong bốn thời kỳ hưng thịnh, thì thời kỳ này là thời kỳ hưng thịnh lừng lẫy
nhất của Phật giáo Trung Hoa...
Nhà Tống sau
khi bình được thiên hạ, đã ra sức chánh hưng đạo Phật và sai sứ sang Tây Vức
thỉnh Kinh và pháp sư về Trung Hoa hoằng dương chánh pháp.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới
|
|
Viết bởi Tuệ Hạnh
|
Đại sư Trí Khải sinh năm 538, vào thời đại mà sau này các sử gia gọi là
Nam Bắc triều (220-589). Sông Dương Tử được lấy làm gianh giới phân
chia giữa hai miền Nam và Bắc. Trong thiền sử, ta thường nghe nói đến
câu Nam Năng (Huệ Năng)-Bắc Tú (Thần Tú), để phân biệt hai dòng thiền:
Đại sư Thần Tú xiển dương Thiền tiệm ngộ ngay tại Trường An; Đại sư Huệ
Năng phát triển Thiền đốn ngộ tại vùng Quảng Đông và lân cận. Bấy giờ
Trung Hoa bị chia thành nhiều nước nhỏ, nước này xâm lăng và thôn tính
nước kia, gây nên nhiều cuộc chiến tương tàn, dân chúng sống trong cảnh
lầm than đau khổ.
Về mặt địa lý, Trung Hoa là một nước rộng
lớn gồm nhiều tỉnh, riêng một tỉnh như Quảng Đông đã lớn hơn nước Việt
Nam, cho nên Trung Hoa có nhiều dân tộc với thổ ngữ, tập tục văn hóa,
truyền thống tín ngưỡng không giống nhau. Chữ Hán được dùng làm văn tự
chính.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới
|
|
Viết bởi Giác Nguyên
|
|
Năm tròn hai mươi tuổi, ngày 26 tháng 04 năm 1939, Ngài
quyết định xuất gia trở lại và lần này tu luôn giới phẩm Tỳ kheo. Xuất gia
xong, Ngài được tham dự các khóa học giáo lý và ngôn ngữ Pali. Năm năm sau, phụ
thân Ngài qua đời và cũng vào lúc này Ngài nhận được mãnh bằng tốt nghiệp xuất
sắc môn Pali. Một phần do tác động tâm lý từ cái chết của cha, Ngài bất chợt
nhìn thấy cái buồn thiu vô vị của cuộc sống và thế rồi, từ bỏ mọi thứ đang có.
Ngài quyết định thực hiện một cuộc đi đường dài của một người du sĩ.
Ðể tới được Trung bộ Thái Lan, Ngài đã trải qua 400 km bằng
đôi chân gió bụi. Trong suốt thời gian ấy, không ít đêm Ngài phải ngủ lại giữa
rừng sâu và thức ăn đi đường chỉ có được bằng cách khất thực tại những xóm làng
mình đi qua. Rồi như một cơ duyên hãn hữu, Ngài đã tình cờ ghé ngang một ngôi
Chùa và chính tại đây được tham kiến Thiền Sư Ajahn Mun Bhùridatta, một Thiền
Sư thời danh và cũng vô cùng lỗi lạc. Ngài Ajahn Chah quyết định dừng bước để cầu pháp. Ngài học
cẩn thận pháp môn Thiền định với Thầy nhưng tự đáy lòng chẳng hiểu sao cứ thấy
có gì đó bất ổn. Dường như hiểu được gút mắc này trong lòng Ngài nên Thiền Sư
Ajahn Mun đã gợi ý một vấn đề hết sức quan trọng: "Giáo lý của Ðức Phật
tuy được trình bày bao la nhưng để đi vào đáy sâu nội tâm của mỗi người thì chỉ
có một con đường duy nhất mà cũng hết sức đơn giản đó là nhiếp tâm giữ gìn chánh niệm, một khi có được khả
năng chánh niệm đối với những gì diễn ra trong lòng mình thì tất cả sự thật tự
lộ diện..." Chính câu nói khai thị này đã phơi mở cho Ngài Ajahn Chah một
lối về ngắn nhất với pháp môn Thiền Quán
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới
|
|
Viết bởi Tỳ kheo Thiện Minh
|
|
Lần đầu tiên ông thử hành Thiền là vào ngày 1 tháng 1 năm
1937. Một học trò của Thiền sư Saya Thetgyi một nông gia giàu có và là một
Thiền sư đến thăm ông và giảng giải cho ông phương pháp niệm hơi thở ànàpàna.
Khi ông luyện thử, ông cảm nghiệm được sự tập trung rất tốt, và điều này gây ấn
tượng mãnh liệt đối với ông khiến ông quyết định theo dự một khóa trọn vẹn. Sau
khi quyết định, ông xin phép nghỉ việc mười ngày, và chỉ một tuần sau khi thử
ànàpàna, ông đã bắt đầu lên đường đi đến trung tâm của Thiền sư Saya Thetgyi ở
Pyawbwegyi.
Năm 1950 ông lập Hội Thiền quán của Văn phòng kế toán nhà
nước để cho những người thường, chủ yếu là các nhân viên của văn phòng, có thể
học Thiền quán. Nhiều học trò người Miến Ðiện của ông cũng làm việc chung với
ông trong chính quyền. Năm 1952, Trung tâm Thiền học quốc tế (I. M. C) khai trương
ở Yangon, cách xa ngôi Chùa nổi tiếng Shwedgon hai dặm về phía Bắc. Tại đây
nhiều học trò người Miến và người nước ngoài đã có may mắn đón nhận những lời
giảng về Giáo pháp của Thiền sư. Thiền sư xác tín rằng đã đến giờ để
những lời dạy của Ðức Phật lan rộng vượt ra khỏi biên giới ảnh hưởng vốn có xưa
nay. Ông ý thức về sự thịnh vượng vật chất và trình độ kỹ thuật của các quốc
gia khác, nhưng ông cũng ý thức về sự mê muội về tinh thần nơi những quốc gia
ấy và sự đau khổ vô bờ phát sinh từ sự mê muội ấy. Ông hiểu rằng đây là thời
điểm để cho lời dạy của Ðức Phật lan rộng tới những cư dân của những vùng đất
ấy.
Trước khi qua đời, ông đã chỉ định một số vị giảng dạy thuộc
nhiều quốc gia khác nhau để thay ông mang Thiền định đến khắp thế giới. Sayagyi
hiểu rằng những lời giảng dạy sẽ vượt ra ngoài biên cương Myanma và châu Á, và
không chỉ lý thuyết mà thôi, nhưng cả việc thực hành những lời dạy của Ðức Phật
sẽ đâm rễ sâu trên khắp thế giới.
|
|
Đọc thêm...
|
|
Lịch Sử Phật Giáo -
Nhân Vật Phật Giáo Thế Giới
|
|
Viết bởi CẨM NANG TU ĐẠO
|
|
Hòa Thượng Quảng Khâm sinh vào đời nhà Thanh, năm Quang Tự thứ 18 (1892). Ngài họ Hoàng, tên tục là Văn Lai, quê ở Phúc kiến, Trung Hoa.
Gia đình Ngài rất nghèo, đến độ anh ruột Ngài không có đủ tiền để cưới vợ. Năm Ngài bốn tuổi, vì không đủ sức nuôi dưỡng Ngài, cha mẹ Ngài phải đem Ngài bán làm con nuôi cho gia đình họ Lý ở Tấn Giang. Hai ông bà họ Lý là người rất tốt, cả đời sống bằng nghề trồng trọt. Họ thương yêu Ngài như con ruột vậy. Bà Lý là người tin Phật sâu xa, suốt đời trường trai. Bà thường đem Ngài lên Chùa cầu nguyện bởi từ nhỏ Ngài thường bệnh hoạn, thân thể yếu ớt.
Năm Ngài chín tuổi...trong đầu Ngài nảy sinh ý niệm thoát trần. Năm 1933, sau sáu năm làm Sa di tu Khổ hạnh, bấy giờ Ngài mới đi cầu thọ giới Tỳ khưu nơi Hoà Thượng Diệu Nghĩa, Chùa Từ Thọ, Phủ điền. Thọ Giới rồi, Ngài liền xin phép Phương Trượng Chuyển Trần đi ẩn tu; lúc ấy Ngài vừa đúng 42 tuổi. Bấy giờ, một thân một mình, với ít áo quần và hơn 10 ký gạo. Ngài nhắm núi Thanh Lương, tỉnh Tuyền Châu, tiến bước. Nơi ấy, ở giữa sườn núi, Ngài tìm thấy một thạch động đủ rộng để an thân tu Ðạo. |
|
Đọc thêm...
|
|
|
|
|
|
|
Trang 1 của 2 |
|