Home Kinh bộ bắc truyền Kinh Đại Bảo Tích VIII.52-54 Kinh Đại Bảo Tích Tập VIII
28 | 08 | 2008
Trang nhà
Tạng Luật
Tạng Luận
Kinh A Hàm và Nikaya
Kinh bộ bắc truyền
Tiểu Bộ Kinh Bắc Truyền
Chư Kinh Giảng Giải
Bookmarks
 
 
 
Nghiên Cứu Phật Học
Tông Phái Phật Giáo
Lịch Sử Phật Giáo
Tin Tức Phật Giáo
Phật Giáo và Đời Sống
Văn Học và Nghệ Thuật
VIII.52-54 Kinh Đại Bảo Tích Tập VIII PDF. In Email
Kinh bộ bắc truyền - Kinh Đại Bảo Tích
Viết bởi Thích Trí Tịnh   
Chỉ mục bài viết
VIII.52-54 Kinh Đại Bảo Tích Tập VIII
cH. 53 Pháp Hội Bất Thuần BT.
Ch.54 Pháp Hội Hải Tuệ B.T
Ch.54 Hội Hải Huệ BT 54.2
Ch.54 Hội Hải Huệ BT 54.3
Tất cả các trang
Chương 52: Pháp Hội Bửu Nữ, Chương 53: Pháp Hội Bất Thuấn Bồ Tát, Chương 54: Pháp Hội Hải Huệ Bồ Tát

Kinh Đại Bảo Tích Tập VIII

Việt dịch: Hòa thượng Thích Trí Tịnh

(Trọn bộ 9 tập)

Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn hành – PL. 2538 – DL. 1994

Mục lục Tập VIII

Chương LII: PHÁP HỘI BỬU NỮ - THỨ NĂM MƯƠI HAI

Chương LIII: PHÁP HỘI BẤT THUẤN BỒ TÁT – THỨ NĂM MƯƠI BA

Chương LIV: PHÁP HỘI HẢI HUỆ BỒ TÁT - THỨ NĂM MƯƠI BỐN

Chương LV: PHÁP HỘI HƯ KHÔNG TẠNG BỒ TÁT - THỨ NĂM MƯƠI LĂM

Chương LVI: PHÁP HỘI VÔ NGÔN BỒ TÁT - THỨ NĂM MƯƠI SÁU

Chương LII: PHÁP HỘI BỬU NỮ - THỨ NĂM MƯƠI HAI

(Hán bộ t quyn 130 đến quyn 131)

Hán dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm.

Việt dịch: Việt Nam, Tỳ kheo Thích Trí Tịnh.

Lúc bấy gi đc Thế Tôn vn gia hai cõi Dc gii và Sc gii trong Ði Bu Phường Ðình ngi trên tòa tht bu sư tử cùng đi chúng vây quanh thuyết pháp.

Trong pháp hội có mt Đồng nữ tên là Bu N t ch ngi đng dy, tay mt cm xâu bch chơn châu mà xướng li rng: “Nếu tôi chơn thiệt có th trong vô lượng thế gii th trì kinh đin Ði tp này và đc tng biên chép rng din nói lưu bố nghĩa y, thì nguyn cho xâu chơn châu này dính trên đnh Pht và chư Bồ tát.”

Xướng li xong, Bu N lin ném xâu chơn châu. Do Phật thn lc và li thành thit ca Đồng nữ y, xâu chơn châu liền ti đnh đc Pht và cũng khp trên đu chư Bồ tát.

Chư Bồ tát đu riêng t trong xâu chơn châu trên đầu mình thy lúc v lai Bu N thành Pht thế gii y và Bồ đề th cùng các chúng sanh được điu phc, c đến nguyn lc thu trước ca mình đu thy rõ ràng.

Chư Bồ tát thy ri đu có lòng cho là rt l k đc bit mà bch đc Pht: “Bch đc Thế Tôn! Bu N này sao li có vô lượng đi công đc như vậy, bao nhiêu thệ nguyn ca tôi trong vô lượng a tăng k kiếp thu trước, nay trong mt nim đu thy rõ ràng c.”

Ðức Pht phán dy: “Lành thay lành thay, này Thiện nam tử! Thit như lời các ông đã nói. Bu N này đã nơi chín vạn sáu c na do tha chư Phật quá khứ gieo trng căn lành phát nguyn lành ln, sanh ra ch nào đu thường được chơn thiệt. Vì vy mà Đồng nữ này phàm khi tu nim phát li không h hư luống. Nếu Đồng nữ y mun đy bu hoa trong cõi Ði Thiên thế gii này mà phát li ra thì lin có y như vậy. Nếu Đồng nữ y nói mun có diu hương đầy khp cõi Ði Thiên thế gii này thì lin có diu hương đầy khp. Nếu Đồng nữ Bu N y mun th hin các loi hình sc, nhng là hình sc Chuyn Luân Vương, hình sắc T Thiên Vương, hình sắc Thiên Ðế Thích, hình sắc Phm Thiên Vương, hoặc hình sc Sa môn, hình sc Bà la môn, hình sc Tỳ kheo, hình sc Tỳ kheo ni, hình sắc Ưu bà tắc, hình sc Ưu bà di thì liền được y như lời phát ra. Hoc lúc phong tai khi lên chuyn làm ha tai, lúc ha tai khi chuyn lên làm thủy tai, lúc thy tai khi lên chuyn làm phong tai, li Đồng nữ Bu N y phát ra thì lin chuyn y như vậy. Nếu có Ma Vương đem các binh chúng cầm dao gy cung tên mâu sóc qua thun, Đồng nữ y mun tt c binh khí đu chuyn thành bu hoa thì lin chuyển y như lời. Nếu có x nào không có nước ung dùng, Đồng nữ Bu N y vì các chúng sanh mà phát nguyn ln, thì tt c thành p t lc x y lin có đ nước ung dùng cho tt c nhơn dân y như lời được phát ra. Nếu Đồng nữ Bu N y mun tt c hình sc trong cõi Ði Thiên thế gii này đu chuyn thành hình sc Như Lai, thì y như lời phát ra đu thành diu sc Pht. Nếu Bu N y nói mun toàn th đi chúng đây đu an tr gia hư không thì đại chúng liền hư không. Nếu Bu N y mun nơi đây từ hư không nghe lời nói ca mười phương chư Phật thì lin được nghe y như lời phát ra.

Này chư Thiện nam tử! Ðng n Bu N y thành tu vô lượng vô biên đi công đc như vậy.”

Ðồng n Bu N lin trước Phật nói kệ khen:

Nay tôi thành tựu khi đi bu

Nên hay ca ngợi đng Vô thượng

Xa lìa tất c các phin não

Ðầy đ đi bu tr Bồ đề

Như Lai đầy đ Vô thượng bu

Sáng lớn hay chiếu vô biên cõi

Vô thượng bu tràng Pht Thế Tôn

Nay tôi dâng bửu đ cúng dường

Xa cừ mã não thanh lưu ly

Kim cương chơn châu nhựt nguyt bu

Dâng các bửu y cúng dường Pht

Vì khiến chúng sanh thành Bồ đề

Ánh sáng thân Phật hơn các bửu

Chúng sanh thích thấy không mi nhàm

ti mt phương thấy mười phương

Khiến chúng thy Pht trước mình

Hoặc thy Như Lai đi hay đứng

Hoặc thy nm ngi hoc thuyết pháp

Hoặc thy nín lng không nói năng

Hoặc thy nhp đnh tu trí hu

Phật mi l lông phóng ánh sáng

Hay chiếu mười phương các thế gii

Phật quang thanh tịnh ti Vô thượng

Như sen thanh tịnh và thu nguyt.

Nói kệ tán thán xong, Bu N bch rng: “Bch đc Thế Tôn! Nay tôi nơi kinh này mun hi ít nghĩa xin đc Thế Tôn ha cho.”

Ðức Pht phán bo: “Lành thay, lành thay, này Bu N! Tùy ý ngươi hỏi, nếu có lưới nghi Pht s tr dit cho.”

Bửu N bch rng: “Bch đc Thế Tôn! Thế nào là thit ng, thế nào là thit, thế nào là pháp ng, thế nào là pháp, thế nào là nghĩa ng, thế nào là nghĩa, thế nào là Tỳ ni ng, thế nào là Tỳ ni nghĩa?”

Ðức Pht phán dy: “Lành thay lành thay! Chí tâm lng nghe, Pht s vì ngươi mà phân biệt gii nói.

Này Bu N! Ði Bồ tát có ba th thit, đó là chng phnh di Pht, chng phnh di chính mình và chng phnh di chúng sanh.

Thế nào là chng phnh di chư Phật, chính mình và chúng sanh?

Này Bu N! Nếu có Bồ tát phát tâm Vô thượng B đ ri mà ham Thanh văn và Bích Chi Pht tha thì gi là phnh di chư Phật, chính mình và chúng sanh.

Này Bu N! Nếu Bồ tát phát tâm Vô thượng B đ ri, hoc ti đa ngc chu kh não ln, hoc gp k ma nghip tà kiến chung, hoc sanh x ác nhiu ác phin não, thân b đao gươm đâm chém chặt đt, trong nhng thi gian th kh đau như vậy vn chng ri lìa tâm Bồ đề chng thôi chng dt chng s chng ăn năn khiến tâm Bồ đề còn thêm ln rng hơn, vì các chúng sanh mà chịu kh não ln, thy người b kh, tâm Bồ đề càng thêm rng ln siêng năng tu tp tinh tiến, mun được Bồ đề chng b tà ng làm mê lm, tt c tà phong không làm lay đng được tâm Bồ đề. Ðây gi là Bồ tát chng phnh di chư Phật, chính mình và chúng sanh vy.

Này Bu N! Nếu Bồ tát chng phnh di chư Phật, chính mình và chúng sanh thì gi là thit trong chơn thiệt.

Này Bu N! Chng phnh di chư Phật còn có bn s, đó là tâm ấy vng chc, an tr ch chí x, đy đ thế lc và siêng tu tinh tiến.

Chẳng phnh di chính mình cũng có bn s, đó là tâm thanh tnh, chí tâm, chng phnh di và chng vy vò.

Chẳng phnh di chúng sanh cũng có bn s đó là trang nghiêm, tu tâm từ, tu tâm bi và nhiếp th.

Này Bu N! Ðây gi là thit th nht ca Bồ tát.

Thiệt ca Bồ tát là lúc ban sơ phát nguyện chng b ri chúng sanh.

Thiệt ca Bồ tát li còn là chng nhiu li, li nói gi gìn, li nói chng thô ác, li nói thường chơn thiệt. Hoc lúc mt mình hay trong đi chúng hay bên vua chúa, li phát ra đu thành thit, chng vì tài vt mà c ý nói di, chng vì t ti mà c ý vng ng. Du có tht bu đy c cõi Ði Thiên thế gii còn không vì c y mà c ý vng ng hung là vì các việc nh mà c ý vng ng.

Này Bu N! Thit y có ba mươi hai điều thanh tnh, đó là li h, li thn, li công đc, li du dàng, li chng hư luống, li không có chê trách, li chng tham trước, li chng e s, li đóng kín các ác đo, li m rng các thin đo, li Thánh hành, li hu hành, li ni thanh tnh, li ngoi thanh tnh, li thích lãnh th, li thích lng nghe, li chng nhám rít, li vi diu, li phân bit, li ging hay, li thun thin, li chng phnh gt, li chng chp, li hoan hỉ, li t khuyến d, li khuyến d người khác, li chng li, li an n, li phước đin, li như Phật, li thit vây quanh và li ming thanh tnh.

Này Bu N! Thit ca Bồ tát là phàm có nói năng thì khu vi ý tương xứng. Sao gi là khu vi ý tương xứng?

Tu tập b thí nên được Bồ đề chng phi do xan tham mà có th được, đây gi là khu ý tương xứng, mà li có th ban cho tt c, đây gi là thit.

Tu tập tnh gii nên được Bồ đề chng phi do hy gii mà có th được, đây gi là khu vi ý tương xứng, mà li nói đúng như tịnh gii nên gi là thit.

Tu tập nhn nhc nên được Bồ đề, chng phi do sân hn mà có th được, đây gi là ý vi khu tương xứng, mà li nói đy đ hnh tu nhn nên gi là thit.

Siêng tu tinh tiến thì được Bồ đề, chng phi do lười biếng mà có th được, đây gi là khu ý tương xứng, mà li nói tu tinh tiến nên gi là thit.

Tu tập thin đnh thì được Bồ đề, chng phi tâm tán lon mà có th được, đây gi là khu ý tương xứng, mà nói tu tp đnh tâm nên gọi là thit.

Tu tập trí hu chng được Bồ đề, chng phi do ngu si mà được, đây gi là ý khu tương xứng, mà li nói tu trí hu nên gi là thit.

Như sáu độ, v ba mươi bảy pháp tr Bồ đề và bn tâm vô lượng cũng như vậy.

Này Bu N! Lun v chơn thiệt y, đó là Thánh hành. Thánh hành y đó là kh hành, vô thường hành, là biết kh, lìa tp, chng dit và tu tp đo đế.

Biết thân ngũ m không có xut sanh, đây gi là biết kh đế. Nhơn của ngũ m đó là tham ái thì rt ráo xa lìa, chng tham chng trước, chng khen chng cu, chng kh chng lai, đây gi là lìa tp đế.

Dứt dit tt c tướng, nhưng lúc diệt không có mt pháp b dit, pháp bt bình đng thì làm pháp bình đng, đây gi là chng dit đế.

Quán Xa ma tha Tỳ bà xá na tướng y bình đng, không có giác không có quán không có bình đẳng không h phược không ly được, không có làm không có biến đi, đây gi là tu đo đế.

Chơn thiệt biết rõ bn đế như vậy li còn có th phân bit nói rng nghĩa t đế y, đây gi là thit ca đi Bồ tát.”

Lúc đức Pht nói pháp chơn thiệt y trong pháp hi có mười ngàn Bồ tát được chơn thiệt nhn.

Ðức Thế Tôn phán tiếp: “Li na, này Bu N! V pháp ng y, đó là lúc din thuyết thì y theo chánh pháp đ nói, quán nơi pháp, niệm nơi pháp, phụng hành nơi pháp, hành pháp chí xứ, cu pháp, mun pháp, thích pháp, tu pháp, tràng pháp, gy pháp, trang nghiêm pháp khí, pháp đăng, pháp minh, pháp nim, pháp ý, pháp hu, pháp s, pháp trang nghiêm anh lc, pháp sàng, pháp nghi, pháp h, pháp tài, pháp vô cùng tn, pháp quảng đi vô biên, pháp s, pháp thân, pháp khu, pháp ý. Ði Bồ tát thành tu đy đ nhng pháp như vậy, đây gi là pháp ng.

Pháp ngữ y đó là chơn thiệt ng, gi gìn pháp ng, dy người cúng dường các bc cha m Sư trưởng k cu có đc, tán thán Bồ đề và tr đo Bồ đề khiến người chng b tâm Bồ đề. Chí tâm nhiếp nim chng quên Bồ đề, chng ri trang nghiêm tu tp pháp Bồ đề, thường gn Hin Thánh các bc thin tri thc. Tu tp tín tâm chuyên nim nghe chánh pháp, m cu chánh pháp siêng tu tinh tiến, chẳng tham trước pháp, biết ơn báo ơn, thích tịch tĩnh, chng đ dt Thánh chng. Giáo hóa hnh đu đà, siêng tht hành thp thin, tán thán công đc b thí và tt c pháp lành. Nguyn hướng đến Bồ đề, chí tâm th trì gii lut thanh tnh, tu tp nhn nhc, tr b gii đãi, tu tp thin đnh và trí hu, tu tp phương tiện cùng t bi h x, tu tp t chơn đế xu hướng chơn đế, tu t vô ngi trí được đi thn thông, tùy thun pháp thí, tu t nim x, t chánh cn, t như ý túc, ngũ căn, ngũ lc, tht Bồ đề phần và bát chánh đo phn. Tu hai pháp đnh và hu được trí gii thoát, gii nói đúng như pháp về Thanh văn tha, Duyên giác tha và Bồ tát tha. Tán thán tt c nhng phước đc. Thường quán thp nh nhơn duyên thậm thâm, rành r không gii thoát môn, vô tướng gii thoát môn, vô nguyn gii thoát môn, vô s úy, nói ngũ m như ảo như hóa, nói thập bát gii như tướng hư không, nói tánh các nhập đng vi tánh không. Thường nói tht Thánh tài, lc nim, lc kính gii nói đy đ lc Ba la mt, nói lc thường hành, tu lc thn thông, đy đ ngũ nhãn, nói đ nht nghĩa đế lưu bố thế gian thành tu nghip ng ngôn, tt c chúng sanh tâm h bình đng, tán thán Pht ng.

Này Bu N! Nếu có Bồ tát thành tu đy đ pháp ng như vậy thì ming trn chng nói ngã ngữ, chúng sanh ng, th mng ng, sĩ phu ng, đon ng, thường ng, hu kiến ng, vô kiến ng, lưỡng biên ng, trung ng, t ng, dit ng, tnh ng, thiên ng, bt giác tri ng. Thường nói li chng điên đo, li chng tăng lòng nghi, li chng nghch chánh pháp, lời quán pháp gii, li phá kiêu mn. Bồ tát thuyết pháp an tr đúng pháp nói đúng chánh pháp, là thit ng, pháp ng, bt đon ng, bt chiết ng. Bồ tát thuyết pháp tt c thế gian không ai có th cùng tranh lun, người thy đu e s. Bc pháp ngữ Bồ tát có th din thuyết không vô tướng vô nguyn, chng tr trước tam gii và vi các hu chng còn th sanh theo nghip, bn tánh thanh tnh an tr tch tĩnh chng cu xin nơi người. Ðây gi là pháp ng.

Này Bu N! Lun v pháp y, pháp thì chng th được, không có văn t ngôn thuyết cũng không có t ng, không sc không thy cũng không có ch hướng đến, không li dy cũng không người được dy, không có tâm ý thc, không có trn cu, không sáng không ti, chẳng h thuc mình cũng chng h thuc người, không có cao h, chng xen tp tt c cnh gii nhơn duyên, thanh tịnh tch tĩnh, không có dn đu, khó biết khó hay, chng th nghĩ bàn, chng th tư duy, người có trí hu thanh tnh mi có th biết được pháp. Pháp ấy không có th không có người th dt hn các th, siêu quá tam thế, bt dit không có tướng dit, bt sanh không có tướng sanh, không có dư đầy thiếu kém, không có tăng gim, vô sanh vô dit, không có s có đã có, chng phi tu, chng phi thy, chẳng phi ma thy, chng phi chơn thiệt thy, chng phi tướng, chng phi chng tướng, chng phi nht tướng mà cũng nht tướng, chng phi c trch xa lìa c trch, chng phi gn xa ri lìa, chng phi phược gii, chng phi hu lu vô lu cũng chng phải tương tợ, chng phi kh lc, chng phi đy đ chng đy đ, chng phi danh sc, chng phi dính mc chng phi thoát ri, chng phi phá chng phi hoàn, du chng phi kim cương tướng chng hư hoại, mà chơn thiệt như kim cương, chẳng phi cn vin, không có sắc không có nhơn cũng chng phi ngoan hư, chẳng phi th b ni ngoi t tha, chng phi kiến văn, chng phi nh quên, chng phi thc chng phi tri, chng phi cnh gii ca thc, chng phi cnh gii ca tri. Ðây gi là pháp. Nếu hay nói rng các pháp như vậy thì gi là thuyết pháp.

Lại na, này Bu N! Pháp ng Bồ tát chng cùng vi thế gian tranh cnh, chng khinh chng mn. Ði vi người chưa học, không có lòng khinh cười chng sanh tâm cao ngo, chng t khen chê người, chng vì tài li ăn ung mà vì người thuyết pháp, chng tr ngi vic lành ca người làm cho h sanh lòng nghi hoc, thy người phm ti trn không rao nói, vi pháp ca k khác chng sanh lòng khinh tin, không tr ngi pháp được tu hành ca người, phàm pháp được din thuyết trn không ri lìa không vô tướng vô nguyn, chng phân bit tt c pháp gii, bt đng pháp gii, bt đng thit tánh. Chng y ch nơi ngữ nơi thức nơi nhơn nơi bất liu nghĩa. Du chng y ch mà cũng chng chê bai. Vi chúng mình chúng người chng sanh phân bit cũng chng chê bai thp nh nhơn duyên. Chẳng phi thế gian mà thanh tnh nơi thế gian, chng phi pháp mà thanh tnh nơi pháp, không tham, không xan, không hủy gii, chng b k phá gii, không sân hn, không gii đãi, chng mất đo tâm, không quên Bồ đề, vì mun trang nghiêm trí hu Vô thượng mà chng nghĩ, chng thôi, chng thi chuyn. Nơi pháp của người không sanh lòng đ k. Chng vì chp trước nơi chẳng phi mười hai b kinh mà ph báng khế kinh v.v… mười hai b. nơi chánh pháp trọn chng thy phi pháp. Chng nhơn nơi khinh mạn mà tăng trưởng khinh mn. Chng bác nhơn quả và nghip qu báo. trong chánh pháp tâm không có thi chuyn. Biết ơn nhớ ơn chẳng quên báo đáp. Trn chng ôm p lòng sân hn, chng chp ngã kiến, chẳng ganh người được li. trong oán thân không có hai ý tưởng. B người chê hi trn chng báo tr. Chng làm lưỡng thit cho kia đây đu lon. Chng có lòng sim khúc hin d đ mê hoc người. Chng vì người khác mng mà th gii Bồ tát, gii Tỳ kheo, giới Tỳ kheo ni, gii Thc Xoa Ma Na, gii Sa Di, gii Sa Di Ni, gii Ưu bà tắc, gii Ưu bà di. Thường ch rnh rang tch tĩnh mà tư duy chánh niệm. Tâm siêng hc đc mười hai b kinh. Chng vì hơn người mà th h các loi gii lut như vậy. Chng vì được cúng dường mà hin tướng tri túc. Chng vì đ hin bày người khác chng tri túc mà t tu tri túc. Chng nói Bồ đề Vô thượng ca chư Phật là vic làm ca người khác. Chng to ác nghip tà ác sanh sng. Chng b tht Thánh tài. Chng tham ăn ung. Chng để dt mt Thánh chng. Chng chê bai người, chng t khen người. trong Pht pháp chng có ý nghĩa là có s có lượng. Thường tán thán Ði tha không có lòng nhàm đ. Ðây gi là pháp ng.”

Ðức Thế Tôn li bo Đồng nữ Bu N: “Lun v Bồ tát nghĩa y, thế nào gi là nghĩa? Ðó là tín tâm lúc tu tp trang nghiêm không có hư cuống, vì mun trang nghiêm tt c thin căn mà chí tâm chuyên nim tu hành các pháp lành, phá lưới nghi ca tt c chúng sanh, chẳng cu qu báo, ban cho chúng sanh s an n khoái lc, h trì cm gii, chng mt tâm nhn nhc, siêng tu tinh tiến tăng trưởng pháp lành, tu đnh tch tĩnh nhiếp các tán lon, đ trí Vô thượng phá ti vô minh. Tu tp t tâm bình đng các chúng sanh, tu tập bi tâm tùy theo ch làm ca chúng sanh đích thân đến xây dng, tu tp h tâm ban cho chúng sanh pháp h, tu tp x tâm chng thy kh vui. X b tài pháp ri không h hi tiếc, li nói du dàng phá tâm ác người, làm li ích cho người đ pháp thm thâm, tu hành đồng s đ khuyên người phát tâm Ði tha, đây là dùng bn nhiếp pháp đ điu phc chúng sanh. Thy tt c hành pháp đu vô thường kh không vô ngã dt sch các phin não. Y ch nơi nghĩa chng y ch nơi ngữ, y ch nơi trí chẳng y ch nơi thức, y ch kinh liu nghĩa xa b bt liu nghĩa, y ch nơi pháp chẳng y ch nơi người. Nói nghĩa vô ngi không có cùng tn mà pháp gii không có phân bit, nói t vô ngi chng được gii thoát, nói lc thuyết vô ngi đúng như pháp mà nói. Trang nghiêm bố thí chẳng biết nhàm đ, trang nghiêm tnh gii thành tu nguyn lành, trang nghiêm đa văn đúng như pháp mà làm, trang nghiêm công đức đy đ tướng ho, trang nghiêm trí hu biết rõ căn tánh thượng trung h và các tướng sai bit ca các chúng sanh, trang nghiêm chánh định vì tâm thanh tnh, trang nghiêm nơi trí được ba th hu. Tu T nim x vì tâm chng tán lon, tu T chánh cn vì được thiên căn, tu T như ý vì qua lại mười phương, tu tập Ngũ căn bin nói phân bit các t cú, tu tp Ngũ lc đã phá các phiền não, tu Thất giác chi vì biết các pháp, tu tp Bát chánh đo chng b ác tà lay đng, tu tp thn thông vì chng thi tht.

Ðại Bồ tát hiu nghĩa như vậy thì gi là nghĩa. Nếu đi Bồ tát hay din nói các nghĩa y, thì gi là thuyết nghĩa.

Còn nữa, này Bửu N! Lun v nghĩa y, đó là tu tp không tam mui phá các pháp có, tu tp vô tướng tam mui phá các pháp tướng, tu tp vô nguyn tam mui chng cu tam gii. Nếu có th din nói ba pháp môn rng không không có như vậy thì gi là thuyết nghĩa.

Tất c hành chng th tu hành được, Bồ tát din nói pháp chng th tu hành được này thì gi là thuyết nghĩa.

Dứt tt c sanh khi, đây gi là nghĩa, Bồ tát din nói các pháp vô sanh này thì gi là thuyết nghĩa.

Các hữu không có xut, đây gi là nghĩa, din thuyết như vậy thì gi là thuyết nghĩa.

Tứ chơn đế, đây gi là nghĩa, din nói như vậy thì gi là thuyết nghĩa.

Không có ngã không có ngã sở, đây gi là nghĩa, din thuyết như vậy thì gi là thuyết nghĩa.

Tự cú chng nói được, đây gi là nghĩa, din thuyết như vậy thì gi là thuyết nghĩa.

Nghĩa chơn thiệt, đây gi là nghĩa, din thuyết như vậy thì gi là thuyết nghĩa.

Tất c pháp Bồ đề chng th đếm k, đây gi là nghĩa, din thuyết như vậy thì gi là thuyết nghĩa.

Người đa văn an tr đúng như pháp, đây gọi là nghĩa, din thuyết như vậy thì gi là thuyết nghĩa.

Tất c các tha, Ði tha là hơn hết, đây gi là nghĩa, din nói như vậy thì gi là thuyết nghĩa.

Còn nữa, này Bu N! Vô phân bit, đây gi là nghĩa, không có chúng sanh không có th mng, nht v bt đng, bt tn nht s, bt sanh bt xut, bt lai bt kh, bt dit bt nh, chng th xem thy, không có to tác, vô vi vô tác, tâm chng sim khúc, tam thế bình đng, ba phn không sai bit, chng được chng mt, chng nóng chng lnh, chng tnh chng uế, chng đi chng đng, chng ly chng b, chng phi đo dy đo, chng phi thường chng phi đon, cũng chng phi trung đo, chng tham chng sân, chẳng nhìn nơi pháp và phi pháp, chẳng phi tt c văn t âm thanh t ng, không có tâm ý thc, nơi tham sân si chẳng sanh phân bit, tt c các pháp tác tướng có tướng đu là không, vô tướng và vô nguyn ba môn này tc rng không, chơn thiệt nhp pháp giới, đẳng cùng bt đng đu bình đng, nhơn nơi trí huệ mà được gii thoát.

Nếu Bồ tát có đ các nghĩa như vậy thì gi là nghĩa, din nói như vậy thì gi là thuyết nghĩa.

Lại này Bu N! Thế nào là Bồ tát din nói Tỳ ni?

Này Bu N! Ðc Pht nói Tỳ ni phàm có hai thứ, đó là phm Tỳ ni và phin não Tỳ ni.

Thế nào là phm và thế nào là Tỳ ni?

Phạm ri lin biết mà chng tư duy tốt, nhơn vì vô minh điên đảo hư vọng khi cung phin não chp ngã chp chúng sanh, tâm có lưới nghi chng được gii thoát, điu c nghi hi kiêu mn phóng dt qu văn, nhơn các phiền não kiết s như vậy đây gi là phm.

Nếu phá được tâm nghi được gii thoát do được gii thoát ri thy ch có phm tc là chng phi ch cũng chng phi chng ch, chng phi thân khu ý, chng lấy chẳng b, chng th xem thy, chng phi thân làm cũng phi khu ý làm, nếu là ba nghip làm tc là pháp dit, nếu đã là pháp dit thì ai làm ai phm, như phạm tt c các pháp cũng như vậy, các pháp vô căn vô tr vô x. Nếu có th phá hoi lưới nghi như vậy thì gi là thanh tnh là chng nhit não, theo li dy ca Thy mà làm thì gi là có lòng tin gi là đnh gi là Tỳ ni.

Thế nào là phin não và thế nào là Tỳ ni?

Mười hai hu chi là vô minh, hành, thc, danh sc, lc nhp, xúc, th, ái, th, hu, sanh và lão tử gi là phin não, tánh ca nó có th điu phc được các phin não thì gi là Tỳ ni. Ti sao, vì không vô tướng vô nguyn có th điu phc các pháp, nếu pháp đã là rng không không có tánh tướng chng th nguyn cu thì làm thế nào mà có được tham sân si v.v… Vì vô tác hay điều phc tt c pháp, nếu tt c pháp đã là vô tác thì làm sao có được các phin não. Vì tt c pháp thì nhơn duyên sanh, nếu đã t nhơn duyên sanh thì làm sao thấy được, thy mười hai hu chi như vậy thì cũng biết phin não và tướng phin não. Nếu là không trí hay quán Bồ đề thì dùng không này mà không nơi phiền não. Nếu hay quán sát bình đng như vậy thì gi là Tỳ ni.

Nếu hay din thuyết các nghĩa như vậy thì gi là Bồ tát hay thuyết Tỳ ni.

Nếu Tỳ ni này hay biết được ngã thì tức là biết rõ phin não Tỳ ni.

Thế nào là biết ngã Tỳ ni? Ðó là quán vô ngã, quán ngã tánh, biết rõ ngã, sch hết ngã, thit biết ngã, phân bit ngã không, ngã tu, biết ngã bt đng bt thuyết bt trước bt sanh bt dit.

Nếu có th biết được ngã như vậy thì tc là biết rõ phin não Tỳ ni.

Nếu thit không có ngã mà có ý tưởng là ngã, thì nơi không có phiền não cũng có ý tưởng phin não. Nếu ngã bn lai không có thì phin não cũng vy.

Nếu có quán trí thì có th quán sát biết rõ như vậy, đây gi là biết rõ ngã phin não Tỳ ni.

Về phin não y, chng phi quá kh v lai hin ti, nếu có th chng làm chng nh chng cu thì gi là biết rõ phin não Tỳ ni.

Tỳ ni y cũng chng phi quá kh v lai hin ti, như tâm chẳng phi sc chẳng phải ni ngoi trung gian, phin não cũng vy chng phi sc chng phi ni ngoi trung gian, ti sao, vì không có giác tri vy, vì không có tranh cnh vy, vì không có thanh tnh vy, vì không có to tác vy.

Nếu có th biết rõ các phin não chng sanh chẳng dit như vậy thì gi là biết rõ phin não Tỳ ni.

Nếu Bồ tát được nhng biết rõ phin não Tỳ ni như vậy và cũng vì các chúng sanh mà din nói thì gi là din thuyết Tỳ ni.”

Lúc đức Pht nói pháp trên, trong pháp hi có mười ngàn Bồ tát được vô sanh nhẫn.

Bấy gi Bu N lòng rt vui mng bch rng: “Bch đc Thế Tôn! Ðc Như Lai nói pháp nghĩa chơn thiệt và Tỳ ni chng th nghĩ bàn. Nếu Bồ tát có th din thuyết như vậy thì tc là có th thit biết thit thy.”

Tôn giả Xá Li Pht hi Đồng nữ Bửu N: “Nay Đồng nữ đã có đ các pháp như vậy mà có th din thuyết chăng?”

Bửu N nói: “Thưa Ngài Xá Lợi Pht! Thit y gi là vô tham, vô tham tc là nghĩa, nghĩa như vậy tc là bt kh thuyết, bt kh thuyết y tc là Tỳ ni.

Thưa Ðại đc! Nếu đã như vậy thì thế nào có th nói được!

Lại na, thưa Ðại Ðc Xá Li Pht! Thit y tc là dit, dit y tc là pháp, pháp y tc là tnh, tnh y tc là nghĩa, nghĩa y tc là Tỳ ni. Các pháp như vậy không có văn t, nếu đã không có văn t thì thế nào nói được.

Thưa Ðại đc! Thit y tc là như, như ấy tc là pháp, pháp tc là vô nh, vô nh tc là nghĩa, lun v vô nh cũng chng th điu, nếu chng th điu sao gi là điu, các pháp như vậy đu vô s hu, nếu là vô s hu thì thế nào nói được.”

Tôn giả Xá Li Pht hi: “Nay Đồng nữ thành tu Bu nào mà do đó đt tên là Bu N?”

Ðồng n Bu N đáp: “Thưa Ðại đc! Có ba mươi hai Bồ tát bu tâm, trong tâm như vậy đu không có tâm Thanh văn không có tâm Duyên giác.

Những gì là ba mươi hai Bồ tát bu tâm?

Một là phát tâm vì đ tt c chúng sanh

Hai là phát tâm vì khiến Pht chng chng dt

Ba là phát tâm vì thọ trì Pht pháp chng dit tn

Bốn là phát tâm vì th h Tăng.

m là phát tâm vì ban cho các chúng sanh vui Thánh pháp.

Sáu là phát tâm vì các chúng sanh mà tu tập đi t làm cho chúng sanh ri lìa các kh phin não.

Bảy là phát tâm tu tp đi bi x b vt trong vt ngoài.

Tám là phát tâm hộ trì cm gii vì điu k phá gii.

Chín là phát tâm tu tập nhn nhc vì phá hoi chng nhn kiêu mn ác tâm điên tâm túy tâm cung tâm phóng dt t t tâm.

Mười là phát tâm tinh tiến vì phá nhng gii đãi tâm e s ngn ngi và đ điu phc các chúng sanh gii đãi.

Mười mt là phát tâm tu tp chánh đnh vì phá lon tâm cung tâm vọng nim khiến cho chúng sanh được t thin bát gii thoát điu phc các chúng sanh cõi Dc.

Mười hai là phát tâm tu trí vì phá tt c si ti thành tu chơn thiệt tri kiến nhp vào pháp gii.

Mười ba là phát tâm vì biết tt c chúng sanh bình đng vô nhị đu đng nht v.

Mười bn là phát tâm vì được vô tham vô sân các cnh li suy hy d tâm không dao đng an tr pháp lành kh vui chng đng, vì được nhng s như vậy đ h trì chúng sanh.

Mười lăm là phát tâm vì được không b úy mun liu thm thâm thp nh nhơn duyên xa lìa tất c kiến chp.

Mười sáu là phát tâm vì mun trang nghiêm trí hu và các công đc không có nhàm đ.

Mười by là phát tâm vì mun chng ri thy Pht đ thường được nghe pháp.

Mười tám là phát tâm vì mun đúng như chỗ được nghe mà thuyết pháp.

Mười chín là phát tâm vì được khi pháp rng ln tâm không tham ln.

Hai mươi là phát tâm vì muốn tán thán tnh gii như chỗ nghe mà an tr đ giáo hóa khuyên nhc người phá hy tnh giới.

Hai mươi mốt là phát tâm vì phá by th kiêu mn ca chúng sanh.

Hai mươi hai là phát tâm vì biết căn thượng trung h ca các chúng sanh.

Hai mươi ba là phát tâm vì phá các ma ác nghiệp.

Hai mươi bốn là phát tâm vì ban cho chúng sanh s an lc.

Hai mươi lăm là phát tâm vì phá bao nhiêu s kh ca các chúng sanh lòng chng sanh hi tiếc.

Hai mươi sáu là phát tâm vì muốn thành tu tt c Pht pháp.

Hai mươi bảy là phát tâm vì biết các pháp hu vi tt c vô thường kh vô ngã biết ri không ri lòng chẳng nhàm hi.

Hai mươi tám là phát tâm vì thích tu tập tt c pháp tr Bồ đề.

Hai mươi chín là phát tâm vì thấy không vô tướng vô nguyn vì chúng sanh mà không th chng.

Ba mươi là phát tâm dầu s các hu mà cũng th h các hu.

Ba mươi mốt là phát tâm vì du thy ti li sanh t mà chng nhàm hi.

Ba mươi hai là phát tâm vì mặc du gn Bồ đề, th Vô thượng lc mà vì chúng sanh b diu l</