Bồ tát Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang rời chỗ
ngồi trịch y vai hữu, gối hữu quỳ trên đài liên hoa đến trước đức Phật chắp tay
bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Tỳ kheo hành Đại thừa trụ Đại thừa, hành Đại thừa
thế nào, trụ Đại thừa thế nào? Bạch Thế Tôn! Do nghĩa gì mà Đại thừa ấy gọi là
Đại thừa, lại do nghĩa gì mà gọi là trụ Đại thừa?”
Kinh Đại Bảo Tích
Tập II
Thành hội Phật giáo
TP. Hồ Chí Minh Ấn hành – PL. 2538 – DL. 1994
Chương IX: PHÁP HỘI ĐẠI THỪA THẬP PHÁP - THỨ CHÍN
(Hán
bộ trọn quyển thứ hai mươi tám)
Hán dịch: Nhà Nguyên Ngụy, Pháp sư Phật Đà Phiến Đa.
Việt dịch: Việt Nam,
Tỳ kheo Thích Trí Tịnh.
Như
vậy, tôi nghe một lúc đức Bà Già Bà ở đại thành Vương Xá trong núi Kỳ Xà Quật
cùng câu hội với năm trăm đại Tỳ kheo đại A La Hán và vô lượng vô biên đại Bồ
tát.
Trong
chúng hội có một đại Bồ tát tên là Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang rời chỗ
ngồi trịch y vai hữu, gối hữu quỳ trên đài liên hoa đến trước đức Phật chắp tay
bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Tỳ kheo hành Đại thừa trụ Đại thừa, hành Đại thừa
thế nào, trụ Đại thừa thế nào? Bạch Thế Tôn! Do nghĩa gì mà Đại thừa ấy gọi là
Đại thừa, lại do nghĩa gì mà gọi là trụ Đại thừa?”
Đức
Phật phán: “Lành thay, lành thay! Này Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang! Ông
có thể khéo hỏi nghĩa thậm thâm ấy.
Lắng
nghe lắng nghe, khéo suy nghĩ! Nay ta vì ông mà phân biệt giải nói.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang Bồ tát nghe đức Phật hứa dạy liền bạch rằng:
“Vâng! Bạch đức Thế Tôn! Xin đảnh thọ Thánh giáo.”
Đức
Phật phán dạy: “Này Thiện nam tử! Đại Bồ tát thành tựu mười pháp là hành Đại
thừa, là trụ Đại thừa. Những gì là mười?
Một
là tín thành tựu. Hai là hạnh thành tựu. Ba là tánh thành tựu. Bốn là thích tâm
Bồ đề. Năm là thích nơi pháp. Sáu là quán chánh pháp hạnh. Bảy là hành pháp
thuận pháp. Tám là xả bỏ mạn đại mạn. Chín là khéo hiểu giáo pháp bí mật của
Như Lai. Mười là tâm chẳng mong cầu Thanh văn thừa và Duyên giác thừa.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Thế nào
là đại Bồ tát tín thành tựu nhẫn đến tâm chẳng mong cầu Nhị thừa?”
Đức
Phật dạy: “Này Thiện nam tử! Đại Bồ tát hành hạnh chẳng dua vạy, được hạnh nhu
nhuyến. Bồ tát ấy tin Bồ đề Vô thượng Chánh chơn Chánh giác của chư Như Lai.
Tin chư Như Lai ở trong một niệm nói sự việc cả ba đời. Tin Như Lai tạng bất
lão bất tử vô lượng vô biên bất sanh bất diệt bất thường bất đoạn. Tin chư Phật
thiệt tế pháp giới Nhứt thiết trí, chỗ biết của đấng Nhứt thiết trí, Phật lực,
vô sở úy, pháp bất cộng. Tin tướng vô kiến đảnh của chư Phật. Tin ba mươi hai
tướng của chư Phật và tám mươi tùy hảo trang nghiêm thân Phật, thân Phật có
viên quang. Tin chỗ nói của Thanh văn của Duyên giác của Bồ tát và tin những
lời nói lành. Tin đời này đời trước. Tin người chánh hạnh người trụ chánh hạnh,
hoặc đó là Sa môn hay Bà la môn. Tin nghiệp quả lành rất đáng ưa thích, là vi
diệu tối thắng, những là chư Thiên và Thiên vương, chư nhơn và nhơn vương. Tin
nghiệp quả bất thiện chẳng đáng ưa thích, là khổ não vô lượng, những là tại địa
ngục, hoặc tại ngạ quỷ tại súc sanh.
Tin
như vậy rồi, Bồ tát ấy rời lìa ba pháp: một là nghi, hai là mê lầm, ba là chẳng
quyết định.
Này
Thiện nam tử! Đại Bồ tát thành tựu đức tin như vậy thì gọi là tín thành tựu.”
Đức
Thế Tôn vì hiển thị nghĩa ấy nên lại nói kệ rằng:
“Tin
là tăng thượng thừa
Người
tin là Phật tử
Thế
nên người có trí
Phải
thường thân cận tin
Tin
là pháp tối thượng
Người
tin không nghèo thiếu
Thế
nên người có trí
Phải
thường thân cận tin
Nếu
là người bất tín
Chẳng
sanh các pháp lành
Dường
như hột giống cháy
Chẳng
mọc được mầm rễ.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là đại Bồ tát hạnh thành tựu?
Này
Thiện nam tử! Vì hạnh thành tựu, đại Bồ tát cạo bỏ râu tóc mặc pháp phục bỏ nhà
xuất gia. Đã xuất gia rồi, tu học giới và hạnh Bồ tát, cũng tu học giới hạnh
Thanh văn và giới hạnh Duyên giác. Tu học như vậy rồi, nơi thân khẩu ý nghiệp
của Bồ tát ấy, ác nghiệp điều tiêu diệt.
Những
gì gọi là thân nghiệp bất thiện? Đó là sát sanh, trộm cướp và tà dâm. Dùng ngói
đá dao gậy ném đánh người khác làm thương tổn tay chân v.v..., hoặc đến hoặc đi
làm những sự khi lăng. Đói gọi là nghiệp bất thiện của thân.
Những
gì gọi là khẩu nghiệp bất thiện? Đó là vọng ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt và ác
khẩu, những ngôn thuyết bất thiện, chê bác hủy báng chánh pháp những kinh điển
Đại thừa thậm thâm, rao nói chỗ lỗi dở của Hòa Thượng, A Xà Lê v.v..., những
người an trụ trong chánh pháp. Đó gọi là khẩu nghiệp bất thiện.
Này
Thiện nam tử! Những gì gọi là ý nghiệp bất thiện? Đó là quá nhiều tật đố, lẫn
tiếc và tà kiến. Tiếc ganh về lợi danh thân ái v.v... cậy nhà, cậy sắc, ỷ trẻ
mạnh, ỷ không bịnh, ỷ thọ mạng, ỷ đa văn, ỷ tu hành, quan niệm ái dục, sát hại,
sân não v.v... và quan niệm quốc gia, y phục, ẩm thực, ham chỗ ở, xe cộ giường
nệm v.v..., ham ăn ham uống, ham con cái trâu bò cày cấy làm ăn, lo tôi tớ, lo
người làm công và lúa gạo vải lụa kho đụn những của cải. Hành giả ham những sự
ấy rồi, nếu có một sự tổn thất thì trong lòng sanh lo buồn khổ não. Hành giả do
tham ái tưới ướt nội tâm nên sanh những manh nha ở tâm sau. Lược nói ý nghiệp
không khác gì bánh xe lăn chuyển. Đó gọi là ý nghiệp bất thiện.
Bồ
tát ấy rời lìa ác nghiệp nơi thân khẩu và ý, với Hòa Thượng tưởng là tôn
trưởng, với A Xà Lê tưởng là bực thầy, với những người khác hoặc già hoặc trẻ
sanh lòng cung kính.
Lúc
ở một mình, Bồ tát ấy nghĩ rằng: tôi không nên như vậy. Tôi đã phát khởi tâm độ
tất cả chúng sanh cứu tất cả chúng sanh làm cho chúng sanh an trụ trong chánh
định hạnh. Hiện nay tự thân tôi các căn chẳng điều, tu hành chẳng siêng. Tôi
phải siêng tu hành điều nhiếp các căn. Tôi tu hành như vậy, các chúng sanh thấy
tôi tâm họ điều phục, tùy thuận lời dạy bảo của tôi. Chư Phật hoan hỷ, chư
Thiên, Long Bát bộ cũng hoan hỷ.
Này
Thiện nam tử! Như thế đó gọi là Bồ tát biết tự hổ. Bồ tát ấy lại tự nghĩ rằng:
chớ để người đạo kẻ tục quở trách được tôi nơi thân khẩu ý nghiệp các oai nghi:
những là hủy hoại giới hạnh, hoặc về kiến hạnh, hoặc về hành hạnh, hoặc làm tà
mạng.
Bồ
tát ấy thật hành sự tự hổ như vậy rồi, ngày đêm nhiếp tâm quan sát giới hạnh.
Quan sát giới hạnh xong không có những lo sầu rời lìa những chướng ngại. Tu
hành như vậy xong, ở trong chánh pháp của chư Phật, Bồ tát ấy tu tập các công
hạnh. Những công hạnh ấy gọi là Bồ tát biết thẹn.
Này
Thiện nam tử! Bồ tát thành tựu những hạnh như vậy, gọi đó là hạnh thành tựu.”
Vì
hiển thị nghĩa ấy, đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Hạnh
là tăng thượng của
Phật
thừa và Nhị thừa
Vì
thế nên người trí
Tu
những hạnh vi diệu
Bồ
tát tiếng tăm lớn
Thành
tựu hạnh vô úy
Nên
chứng được Bồ đề
Của
chư Phật đã nói.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là đại Bồ tát tánh thành tựu?
Này
Thiện nam tử! Đại Bồ tát tánh tự ít tham dục sân hận ngu si, chẳng tiếc lẫn
chẳng rít rắm, chẳng thô bạo, chẳng ngã mạn, chẳng nóng vội, điều hòa nhu
nhuyến, lời lành dịu dàng, dễ cùng ở chung.
Bồ
tát ấy đối với tất cả sự cúng dường thượng thắng đúng như tâm dâng hiến, những
vật sở hữu y phục uống ăn chia cấp cho người. Thí xả xong liền sanh lòng vui
mừng hớn hở, nhẫn đến xả thí những phần trên thân thể.
Thật
hành hạnh ấy, Bồ tát thấy Như Lai hoặc hàng Thanh văn lòng rất hoan hỷ.
Đại
Bồ tát thành tựu pháp như vậy gọi đó là tánh thành tựu.”
Vì
muốn hiển thị nghĩa ấy, đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Thấy
khói liền biết lửa
Thấy
uyên ương biết nước
Tướng
lạ biết Bồ tát
Bồ
tát đại trí huệ
Chẳng
rít chẳng não chúng
Bỏ
những hạnh dua vạy
Vì
khéo tin chúng sanh
Đây
gọi Bồ tát tánh.
Này
Thiện nam tử! Thế nào gọi là đại Bồ tát ưa thích tâm Bồ đề?
Này
Thiện nam tử! Đại Bồ tát vì có tướng Bồ đề nên phát tâm Bồ đề. Lúc chưa phát
tâm Bồ đề, hoặc chư Phật Như Lai, hoặc chư Thanh văn khuyên phát tâm Bồ đề. Đây
là tướng sơ phát tâm của Bồ tát.
Này
Thiện nam tử! Bồ tát ấy nghe nói có Bồ đề, nghe tâm Bồ đề có công đức lớn, nghe
rồi phát tâm Vô thượng Bồ đề. Đây là tướng thứ hai phát tâm Bồ đề của Bồ tát.
Này
Thiện nam tử! Bồ tát ấy thấy các chúng sanh không có chủ không người thân không
ai cứu ai hộ không ai độ được khiến họ đến bỉ ngạn. Bồ tát liền vì các chúng
sanh ấy mà sanh lòng từ bi mà nói rằng: tôi sẽ làm người cứu hộ cho các chúng
sanh bơ vơ ấy. Vì nhơn ấy mà Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ đề. Đây là tướng thứ
ba phát tâm Bồ đề của Bồ tát.
Này
Thiện nam tử! Bồ tát ấy vì thấy thân tướng đầy đủ của Như Lai mà sanh lòng vui
mừng, sanh lòng phấn khởi. Do nhơn duyên này mà Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ
đề. Đây là tướng thứ tư phát tâm Bồ đề của Bồ tát.
Này
Thiện nam tử! Bồ tát ấy vì làm lợi ích cho các chúng sanh kia, cho họ được an
ổn vui vẻ nên tu các hạnh bố thí trì giới nhẫn nhục tinh tiến thiền định và Bát
nhã.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là Bồ tát tu hạnh bố thí?
Này
Thiện nam tử! Bồ tát suy nghĩ rằng: tôi phải bố thí thế nào? Tôi phải làm như
vầy: cần ăn cho ăn, cần uống cho uống, cần giường nệm cho giường nệm, cần y
phục nón mũ giày dép đồ trang sức v.v... đều cho tất cả, nhẫn đến cắt thịt thân
mình mà bố thí. Bố thí như vậy nguyện lấy Vô thượng Bồ đề, mà chẳng cầu lấy
phước báo tài vật, chẳng an trụ nơi sự tướng. Đây gọi là Bồ tát thật hành bố
thí.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là Bồ tát tu trì giới hạnh?
Này
Thiện nam tử! Bồ tát ấy trước tiên tự điều thuận thân nghiệp, điều thuận khẩu
nghiệp, điều thuận ý nghiệp. Tất cả ác nghiệp đều bỏ rời. Giữ gìn giới hạnh
chẳng khuyết giảm chẳng sót chẳng tạp. Trì giới như vậy hồi hướng Vô thượng Bồ
đề, mà tâm Bồ tát ấy chẳng hề nắm lấy giới. Đây gọi là Bồ tát tu hạnh trì giới.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là Bồ tát tu hạnh nhẫn nhục?
Này
Thiện nam tử! Bồ tát nếu nghe hoặc kẻ đạo người tục hoặc mắng nhiếc nói xấu,
hoặc đánh đập trói trăn, hoặc chặt tay chân v.v... đều nhẫn được cả. Tu hạnh
nhẫn nhục như vậy, Bồ tát hồi hướng Vô thượng Bồ đề, chẳng vì nhẫn như vậy mà
sanh lòng kiêu mạn. Đây gọi là Bồ tát tu hạnh nhẫn nhục.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là Bồ tát tu hạnh tinh tiến?
Này
Thiện nam tử! Bồ tát suy nghĩ rằng hư không giới vô lượng vô biên, chúng sanh
giới cũng vô lượng vô biên, chỉ tôi một người riêng không đồng bạn làm cho nhập
vào vô dư Niết bàn giới. Vì nhơn duyên ấy mà Bồ tát phát khởi hạnh tinh tiến:
ban đầu nhiếp trì tự thân. Nhiếp trì tự thân rồi quán thọ quán tâm quán pháp.
Chánh quán nơi thọ tâm và pháp rồi hành trì tâm hạnh. Đã hành trì tâm hạnh rồi
kế đến tu hành các hạnh thấy pháp v.v... Trì tâm ý như thế xong, vì làm cho
những ác bất thiện chưa sanh phải dứt diệt chẳng sanh nên Bồ tát phát khởi dục
cần tinh tiến. Vì làm cho những thiện pháp chưa sanh được phát sanh nên Bồ tát
phát khởi dục cần tinh tiến. Kế đến Bồ tát lại tu hành sơ như ý túc, đệ nhị đệ
tam và đệ tứ như ý túc. Tu hành như vậy chẳng sanh tâm kiêu mạn. Đây gọi là Bồ
tát tu hành tinh tiến.
Này
Thiện nam tử! Thế nào gọi là Bồ tát tu hạnh thiền định?
Này
Thiện nam tử! Bồ tát vì chẳng tham trước nơi dục, chẳng tham trước nơi diệt,
chẳng tham trước nơi ly dục, chẳng tham trước tự thân, chẳng tham trước tha
thân, chẳng tham trước sắc thọ tưởng hành thức, chẳng tham trước dục giới,
chẳng tham trước sắc giới, chẳng tham trước nơi không nơi vô tướng nơi vô
nguyện, chẳng tham trước thế giới hiện tại này, chẳng tham trước thế giới vị
lai mà làm hạnh bố thí. Chẳng y chỉ nơi thí nơi giới nơi nhẫn nhục nơi tinh
tiến nơi thiền định. Bồ tát tu hạnh thiền định như vậy hồi hướng Vô thượng Bồ
đề mà chẳng sanh phân biệt. Đây gọi là Bồ tát tu hạnh thiền định.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là Bồ tát tu hạnh Bát nhã?
Này
Thiện nam tử! Bồ tát thường suy nghĩ rằng: tôi hóa độ chúng sanh. Hóa độ rồi
lại nghĩ rằng: tôi hóa độ vô lượng vô biên chúng sanh giới khiến họ nhập vào vô
dư Niết bàn giới mà không có một chúng sanh nhập vào Niết bàn giới. Tại sao
vậy? Như đức Phật đã dạy rằng tất cả các pháp không có ngã, không có nhơn,
không có chúng sanh, không có thọ mạng. Bồ tát tu huệ như vậy hồi hướng Vô
thượng Bồ đề. Nguyện như vậy mà ở nơi trí huệ chẳng sanh phân biệt. Đây gọi là
Bồ tát tu hạnh Bát nhã.
Này
Thiện nam tử! Đại Bồ tát phát tâm Bồ đề như vậy, gọi là Bồ tát ưa thích tâm Bồ
đề.”
Vì
hiển thị nghĩa ấy, đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:
“Dường
như chân bửu châu
Chẳng
bỏ rời ánh sáng
Lại
như vàng trong mỏ
Luyện
xong càng thêm sáng
Bồ
tát tánh như vậy
Càng
sáng tâm Bồ đề
Nhị
biên thanh tịnh rồi
Ma
chẳng quấy hại được.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là Bồ tát ưa thích nơi pháp?
Này
Thiện nam tử! Đại Bồ tát tánh tự ưa thích nơi pháp, vui mừng nơi pháp và thấm
nhuần nơi pháp. Nếu thấy người biết nơi pháp, hoặc Sa môn hoặc Bà la môn, tùy
vật sở hữu đều đem dâng cúng và chắp tay cung kính. Cung kính cúng dường rồi,
từ nơi người biết pháp ấy mà được nghe pháp chưa từng được nghe. Cầu được chánh
pháp như thế rồi, Bồ tát như thiệt tu hành. Đối với người biết pháp trì pháp
ấy. Bồ tát tưởng là Tôn trưởng, là Hòa Thượng, là A Xà Lê, quan niệm rằng từ
lâu tôi mất bực Đạo sư nay bỗng được gặp nên tưởng là bực Đạo sư. Bồ tát lại
nghĩ rằng tôi thường bị hệ phược tại ngục tù thế gian không hiểu biết không ai
cứu, chẳng biết hỏi ai, nay bỗng gặp Đạo sư. Bồ tát lại nghĩ rằng: Từ lâu tôi
mãi ngủ ở thế gian ngu si như người mù, nay bỗng nhiên được người mở mắt cho.
Bồ tát lại nghĩ rằng: Từ lâu tôi chìm sâu trong bùn không ai cứu vớt, nay bỗng
được người vớt lên. Bồ tát lại nghĩ rằng: Từ lâu tôi mất bực Đạo sư dẫn đạo
chúng sanh, nay bỗng được gặp bực Đạo sư. Bồ tát lại nghĩ rằng: Từ lâu tôi bị
nhốt ở chỗ nghèo khổ hoạn nạn thế gian không ai cứu tiếp, nay được gặp người
cứu tiếp. Bồ tát lại nghĩ rằng từ lâu tôi mắc bệnh khó lành không có lương y
điều trị được, nay gặp được lương y. Bồ tát lại nghĩ rằng từ lâu tôi bị lửa
tham dục đốt cháy chưa nhờ mây lành mưa tưới, nay bỗng được mây lành tuôn mưa.
Vì nhơn duyên thích pháp mến thầy như vậy, nên Bồ tát nhẫn chịu những sự khổ
não như lạnh nóng, các chúng sanh hay làm não hại người như muỗi mòng v.v...
đều nhẫn chịu được, cũng nhẫn chịu được sự đói khát v.v... thấy chúng sanh vui
sướng chẳng sanh lòng ham muốn. Bồ tát nghĩ rằng dầu tôi hưởng thọ sự khoái lạc
thế gian, không bằng nếu tôi được nghe một câu chánh pháp. Nghe xong có thể
thành văn huệ, sanh ý tưởng văn huệ.
Do
vì ưa thích nơi chánh pháp như vậy, nên Bồ tát làm việc bố thí chẳng có lòng ưu
sầu nhẫn đến không hề có sự lo khổ. Vì thế mà Bồ tát nghĩ rằng: Tôi vì nghe một
câu pháp của đức Như Lai nói, dầu cho có vào ở A Tỳ địa ngục từ một kiếp đến
trăm ngàn kiếp cũng không thấy khổ nhọc, mà tu hành Nhứt thiết chủng trí. Nếu
có người nào chưa được chánh pháp của Phật, tôi có thể làm cho họ được.
Này
Thiện nam tử! Bồ tát ưa thích nơi pháp như vậy thì gọi là Bồ tát ưa thích nơi
pháp.
Vì
muốn tuyên bày nghĩa ấy, đức Thế Tôn lại nói kệ rằng:
“Người
đại trí cầu pháp
Đó
là chư Bồ tát
Cầu
pháp không chán đủ
Do
vì tâm cung kính
Thường
cầu nơi chánh pháp
Gọi
là tướng Bồ tát
Nghe
rồi thường nhớ ghi
Lại
tu hành đúng pháp.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là Bồ tát quán chánh pháp hạnh?
Này
Thiện nam tử! Đại Bồ tát quán như vầy: tất cả pháp như huyễn phỉnh gạt phàm phu
vì họ ngu si không có chánh huệ. Tất cả pháp hư vọng như giấc mộng vì chỉ là
niệm tưởng. Tất cả pháp như trăng trong nước vì chẳng phải là sự thiệt có. Tất
cả pháp như tượng trong gương vì không chúng sanh. Tất cả pháp như vang vì hư
không và âm thanh sanh ra. Tất cả pháp sanh diệt vì nhơn duyên tạo thành. Tất
cả pháp bất sanh vì tánh chân như. Tất cả pháp bất diệt vì là vô sanh. Tất cả
pháp vô tác vì không có tác giả. Tất cả pháp như hư không vì vô nhiễm. Tất cả
pháp tịch tịnh vì thể tánh vô nhiễm. Tất cả pháp ly cấu vì lìa tất cả cấu. Tất
cả pháp vĩnh diệt vì vốn diệt phiền não. Tất cả pháp vô sắc vì chẳng thể thấy
được. Tất cả pháp lìa tâm, ý và ý thức vì vô thân. Tất cả pháp vô trụ vì diệt
tất cả a lê gia. Tất cả pháp vô cầu vì lìa đây kia thân ái. Tất cả pháp vô
trước vì lìa tất cả cảnh giới phiền não. Tất cả pháp như rắn độc vì không có
sức phương tiện chú thuật. Tất cả pháp như chuối cây vì chẳng chắc thiệt. Tất
cả pháp như bọt nước vì tánh vô lực vậy.
Này
Thiện nam tử! Bồ tát quán chánh pháp hạnh như vậy thì gọi là Bồ tát quán chánh
pháp hạnh.”
Vì
tuyên bày nghĩa ấy, đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Tất
cả pháp như huyễn
Che
đậy tâm chúng sanh
Hư
vọng như chiêm bao
Phải
thọ trì như vậy
Pháp
như trăng trong nước
Vì
bóng hình nổi lên
Pháp
như tượng trong gương
Người
trí phải xét biết.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là Bồ tát quán pháp thuận pháp?
Này
Thiện nam tử! Đại Bồ tát dầu quán sắc vô thường mà chẳng do diệt sắc để chứng
nhập pháp giới. Dùng như thiệt trí, nơi các pháp sở hữu ở trong pháp giới như
thiệt biết rõ các pháp tướng rồi khéo ghi nhớ khéo tu tập. Trong pháp giới ấy
sở hữu các tướng, chỗ có thuyết giả tu giả và ký giả, tự nhiên nhập vào pháp
giới hạnh như vậy.
Như
với sắc, với thọ tưởng hành nhẫn đến thức, Bồ tát dùng như thiệt quán chánh
quán sát rồi mà chẳng diệt thức, chẳng chán lìa thức để chứng nhập pháp giới.
Tất cả pháp sở hữu trong pháp giới, dùng như thiệt trí như thiệt chứng biết.
Trong các pháp ấy có những danh tự đều khéo nói khéo biết khéo tu khéo ghi nhớ.
Do vì khéo biết, khéo tu và khéo ghi nhớ nên tự nhiên nhập pháp giới hạnh như
vậy.
Như
quán biết vô thường, quán biết khổ vô ngã và bất tịnh cũng như vậy.
Quán
sắc vô thường khéo biết như vậy, ở trong sắc ấy chẳng còn sanh tưởng khủng bố.
Tại sao vậy? Vì như thiệt biết sắc hư vọng sanh ra, Bồ tát khéo biết như thiệt
như vậy. Thọ tưởng hành thức đều vô thường khổ vô ngã và bất tịnh, ở trong thọ
tưởng hành và thức ấy chẳng sanh tưởng khủng bố. Tại sao vậy? Vì như thiệt biết
thọ tưởng hành và thức là hư vọng, Bồ tát khéo biết như thiệt như vậy.
Này
Thiện nam tử! Ví như nhà ảo thuật khéo giỏi và đồ đệ hóa thuật ra các sự bốn
binh chủng, đó là tượng binh, mã binh, xa binh, bộ binh. Người có trí xem thấy
chẳng kinh sợ. Tại sao vậy? Vì người trí biết đó là những thứ hư vọng do nhà ảo
thuật hóa thuật ra phỉnh gạt mọi người.
Này
Thiện nam tử! Bồ tát quán sắc vô thường như vậy. Quán vô thường rồi ở trong sắc
ấy chẳng sanh tưởng khủng bố. Tại sao vậy? Vì như thiệt biết sắc hư vọng sanh
khởi, Bồ tát khéo biết như thiệt như vậy.
Này
Thiện nam tử! Bồ tát quán thọ đến thức vô thường như vậy. Quán vô thường rồi ở
trong thọ đến thức chẳng sanh tưởng khủng bố. Tại sao vậy? Vì như thiệt biết
thọ đến thức hư vọng sanh khởi, Bồ tát khéo biết như thiệt như vậy.
Này
Thiện nam tử! Bồ tát quán pháp thuận pháp như vậy.”
Bấy
giờ, Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Thế nào là Bồ tát quán sắc vô thường mà chẳng rời sắc nói nơi pháp giới chứng
nơi pháp giới tập học pháp giới, dùng sức trí huệ như thiệt chứng biết tất cả
các pháp?”
Đức
Phật phán dạy: “Này Thiện nam tử! Vì ông hỏi nên nay ta nói ví dụ.
Này
Thiện nam tử! Ví như trong thế gian, người có trí lấy các chất độc, lấy chất
độc rồi hoặc nấu hoặc cao hoặc hiệp với chất thuốc khác. Hiệp với các chất
thuốc khác rồi, vì tài lợi mà đem bán thuốc độc ấy, nhưng người trí này chẳng tự
uống. Tại sao vậy? Vì người trí ấy suy nghĩ rằng chớ để thân tôi do thuốc độc
này mà phải chết mất.
Này
Thiện nam tử! Đại Bồ tát tâm thuận hướng đến Niết bàn, tâm nhuần hướng đến Niết
bàn, tâm nhuần chảy về Niết bàn, tâm chánh lấy Niết bàn, mà đại Bồ tát chẳng
chứng Niết bàn. Tại sao vậy? Bồ tát suy nghĩ: chớ để thân tôi do nhơn duyên ấy
mà thối chuyển Bồ đề.
Lại
này Thiện nam tử! Ví như có người phụng thờ lửa. Họ tôn trọng cung kính gìn giữ
ngọn lửa, mà họ chẳng có tâm niệm dùng hai tay nắm bốc lửa. Tại sao vậy? Vì họ
tâm niệm rằng chớ để thân tôi vì nhơn duyên ấy mà phải thân đau tâm khổ.
Này
Thiện nam tử! Đại Bồ tát dầu tâm thuận hướng về Niết bàn nhẫn đến thuận hướng
đến bờ Niết bàn, mà đại Bồ tát chẳng chứng Niết bàn. Tại sao vậy? Đại Bồ tát
suy nghĩ rằng: chớ để thân tôi do nhơn duyên ấy mà thối Bồ đề trí.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Như
chỗ tôi hiểu pháp nghĩa được đức Phật nói thì Bồ tát phải thường ở thế gian.”
Đức
Phật phán: “Đúng như vậy. Bồ tát phải thường ở tại thế gian.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Bồ
tát ở tại thế gian phải thế nào để khỏi bị thế gian ô nhiễm?”
Đức
Phật dạy: “Này Thiện nam tử! Nay tôi vì ông mà nói ví dụ.
Này
Thiện nam tử! Ví như có người khéo hiểu phương tiện bắt các cầm thú. Người ấy
dùng sức chú thuật cùng đùa với rắn độc, nắm rắn độc hoặc ngậm hoặc rờ vuốt.
Đùa giỡn với rắn độc như vậy mà trọn chẳng bị nhơn duyên ấy làm mất mạng. Tại
sao vậy? Vì có sức chú thuật thiện xảo vậy.
Này
Thiện nam tử! Đại Bồ tát ở tại thế gian hành thế gian pháp, vì có sức đại trí
phương tiện thiện xảo cùng các thuốc độc phiền não ác đùa giỡn, mà chẳng bị
nhơn duyên kia làm thối Bồ đề. Tại sao vậy? Vì đại Bồ tát đã thành tựu sức trí
huệ phương tiện thiện xảo vậy.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Đức Thế Tôn rất lạ
lùng, rất lạ lùng thay! Đấng Thiện Thệ rất ít có rất khó có!
Bạch
đức Thế Tôn! Đại Bồ tát tâm hướng đến Niết bàn mà chẳng chứng Niết bàn, dầu ở
tại thế gian mà chẳng bị thế gian ô nhiễm. Nay tôi quy y chư Bồ tát.
Bạch
đức Thế Tôn! Nếu có thiện nam thiện nữ được nghe hạnh Bồ tát như đây mà sanh
lòng vui mừng, người ấy đã từng trồng căn lành từ quá khứ. Tại sao vậy? Nếu
người nào nghe pháp môn này nhẫn đến một thời gian chừng khoảng khảy ngón tay
mà sanh lòng hi hữu, người ấy được chư Phật thọ ký rồi. Tại sao vậy? Vì người
ấy nghe pháp môn này mà chí tâm lắng nghe kỹ vậy.”
Đức
Phật phán: “Đúng như vậy. Như lời ông nói.”
Lúc
nói pháp môn ấy, có năm trăm Tỳ kheo được tâm vô lậu. Được tâm vô lậu rồi các
Ngài đứng dậy chỉnh y vai hữu, gối hữu chấm đất chắp tay bạch rằng: “Bạch đức
Thế Tôn! Chư Bồ tát đáng được cung kính, phải nên lễ kính chư Bồ tát.”
Đức
Phật phán: “Đúng như vậy. Này Thiện nam tử! Chư đại Bồ
tát quán pháp thuận pháp như vậy thì gọi là Bồ tát quán pháp thuận pháp.
Vì
hiển thị nghĩa ấy, đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Phải
kính đại trí huệ
Phải
kính đại vô úy
Phải
kính người chánh phục
Phải
kính người Phật sanh
Vì
dùng sức phương tiện
Vì
trí huệ thiện xảo
Vượt
quá hàng Thanh văn
Bồ
tát có trí lớn
Biết
rõ năm ấm hư
Vì
sanh diệt bất định
Thấy
thế gian lửa cháy
Nên
chẳng chứng Niết bàn.
Lại
này Thiện nam tử! Thế nào là đại Bồ tát rời lìa mạn đại mạn?
Này
Thiện nam tử! Mạn được nói đó là người sanh tâm như vầy: nay tôi chỗ có những
nhà cửa, dòng họ, hình sắc, sức lực và những thứ vàng bạc, châu báu, hoặc tượng
binh, mã binh, xa binh, bộ binh v.v.. chẳng kém người khác. Nếu có người sanh
tâm kiêu mạn như vậy thì gọi là mạn, vì họ chẳng có lòng kính nể người khác
vậy.
Này
Thiện nam tử! Thế nào gọi là đại mạn?
Nếu
có người quan niệm rằng: thân thể dòng họ tài sản của tôi nhẫn đến bốn binh
chủng của tôi hơn người khác. Do đó mà không có lòng kính nể người khác. Đây
gọi là đại mạn.
Này
Thiện nam tử! Kiêu mạn và đại mạn ấy, đại Bồ tát đều đã rời bỏ. Đây gọi là Bồ
tát rời lìa mạn đại mạn.
Vì
tuyên bày nghĩa ấy, đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Rời
mạn lìa đại mạn
Thường
hành tâm từ bi
Vì
dùng đó nhuần tâm
Ở
đời chẳng phóng dật
Dầu
làm việc khất thực
Đại
sự của Bồ tát
Thuyết
pháp làm lợi ích
Cho
trời và cho người.
Lại
này Thiện nam tử! Thế nào là Bồ tát hiểu giáo pháp bí mật của đức Như Lai?
Này
Thiện nam tử! Đại Bồ tát ở trong các kinh có ẩn chứa những nghĩa thâm mật thì
khéo biết như thiệt.
Này
Thiện nam tử! Những gì là giáo nghĩa thâm mật của đức Như Lai?
Này
Thiện nam tử! Đức Phật thọ ký cho hàng Thanh văn được Vô thượng Bồ đề. Việc ấy
chẳng nên vậy.
Như
đức Phật bảo A Nan: lưng ta đau nhức. Việc ấy chẳng nên vậy.
Như
đức Phật phán với chư Tỳ kheo: nay ta già suy, các ông vì ta mà tìm thị giả.
Việc ấy chẳng nên vậy.
Như
đức Phật bảo Đại Mục Kiền Liên: ông nên đến hỏi y vương Kỳ Bà, bịnh của ta phải
uống thứ thuốc nào? Việc ấy chẳng nên vậy.
Như
đức Phật theo đuổi các nhà ngoại đạo nhiều nơi để luận nghĩa tranh thắng họ.
Việc ấy chẳng nên vậy.
Như
gai khư đà la đâm chân ta. Việc ấy chẳng nên vậy.
Như
đức Phật thường nói Đề Bà Đạt Đa là kẻ oan cừu đời trước của ta, ông ấy thường
theo tìm dịp hại ta mãi. Việc ấy chẳng nên vậy.
Như
đức Phật ngày trước vào thành Xá Vệ trong thôn Xa Lê Gia Bà la môn khất thực
khắp nơi rồi đi ra với cái bát không. Việc ấy chẳng nên vậy.
Như
nàng Chiên Giá Ma Na Tỳ Tôn Đà Lê dùng gáo gỗ độn bụng để vu báng Như Lai. Việc
ấy chẳng nên vậy.
Như
ngày trước đức Phật nhận lời thỉnh an cư ba tháng tại nước Tỳ Lan Đa của Tỳ Lan
Nhã Bà la môn mà ăn cơm lúa mạch. Việc ấy chẳng nên vậy.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Lời
nói vừa rồi đó phải nhận lấy thế nào? Cớ chi đức Thế Tôn thọ ký cho hàng Thanh
văn được Vô thượng Bồ đề?”
Đức
Phật phán dạy: “Này Thiện nam tử! Ta thọ ký cho hàng Thanh văn được Vô thượng
Bồ đề đó là vì ta thấy họ có Phật tánh vậy.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Hàng Thanh văn ấy dứt hữu lậu rời ba cõi phần thọ sanh đã đoạn, mà vì họ có
Phật tánh nên được đức Như Lai thọ ký Vô thượng Bồ đề, việc ấy như thế nào?”
Đức
Phật phán dạy: “Này Thiện nam tử! Nay ta vì ông mà nói ví dụ.
Này
Thiện nam tử! Ví như Quán Đảnh Chuyển Luân Thánh Vương có đủ ngàn Vương tử, cứ
theo Vương tử nào lớn nhứt sẽ truyền ngôi vua. Nhưng vì Vương tử ấy căn tánh
ngu độn nên đáng lẽ sơ giáo lại trung giáo, đáng lẽ trung giáo lại hậu giáo tất
cả những sự nghề nghiệp chú thuật. Vương tử ấy vì ngu độn nên đáng lẽ sơ học
thì trung học, đáng lẽ trung học thì hậu học.
Này
Thiện nam tử! Ý của ông nghĩ sao? Vương tử ấy học như vậy xong há lại chẳng
phải là Chánh Tử của Luân Vương ư?”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Là
Chân Vương tử vậy.”
Đức
Phật phán dạy: “Này Thiện nam tử! Cũng vậy. Có Bồ tát vì căn tánh chậm lụt nên
đáng sơ học lại trung học, đáng trung học lại hậu học, y theo pháp quán năm ấm
của chúng sanh dứt diệt phiền não. Diệt phiền não rồi sau mới được Vô thượng Bồ
đề.
Này
Thiện nam tử! Hàng Thanh văn ấy do nhơn duyên như vậy mà được Vô thượng Bồ đề,
há lại có thể nói rằng hàng Thanh văn chẳng được thành Chánh giác ư?”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Tôi
chẳng bao giờ thấy có ai, là người hay trời, là Ma vương hay Phạm Vương mà có
thể nói hàng Thanh văn chẳng được thành Chánh giác. Không bao giờ có người nào
nói được. Chỉ trừ hạng nhứt xiển đề.”
Đức
Phật phán dạy: “Này Thiện nam tử! Nay ta lại vì ông mà nói ví dụ.
Này
Thiện nam tử! Bồ tát căn tánh bén nhạy trụ địa thứ mười trừ hai thứ vô ngã mà
ngồi đạo tràng. Đó là trừ rồi ngồi, hay là chẳng trừ mà ngồi ư?”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Đã
trừ rồi ngồi vậy.”
Đức
Phật phán dạy: “Này Thiện nam tử! Bồ tát lợi căn ấy do nhơn duyên như vậy há
lại chẳng thành Chánh giác ư?”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn!
Được thành Chánh giác vậy.”
Đức
Phật phán dạy: “Này Thiện nam tử! Trường hợp lời nói trên đây cũng như vậy.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Cớ
chi đức Thế Tôn ngày trước bảo ông A Nan rằng: lưng ta đau nhức?”
Đức
Phật phán dạy: “Này Thiện nam tử! Ta quan sát thương xót chúng sanh đời sau mà
nói rằng lưng ta đau nhức. Khiến các người bịnh biết rằng thân đức Phật là thân
kim cương mà còn có đau lưng huống là chúng ta và những người khác. Vì cớ ấy
nên ta mới có lời nói như vậy. Mà các ngu nhơn lại cho là thiệt, là đức Phật có
bịnh đau lưng v.v... như vậy là họ tự hại và làm hại người khác.
Này
Thiện nam tử! Như ngày trước ta bảo chư Tỳ kheo rằng nay ta già yếu, các ông
nên vì ta mà tìm thị giả. Ta nói như vậy cũng là vì thương xót đời sau các
Thanh văn đệ tử già yếu phải cần người chăm sóc cung cấp để khỏi thối chuyển.
Mà những ngu nhơn lại cho rằng thiệt, họ cho rằng đức Phật già yếu cần thị giả.
Này
Thiện nam tử! Ngày trước ta bảo Đại Mục Kiền Liên đến hỏi y vương Kỳ Bà về cách
uống thuốc. Ta nói như vậy cũng là vì thương xót đời sau hàng Thanh văn đệ tử,
người có bịnh cần phải dùng thuốc, họ nhớ rằng đức Phật là thân kim cương mà
còn phải uống thuốc huống là tôi và các người khác. Mà những ngu nhơn lại cho
là thiệt, họ cho rằng thân đức Phật là thân bịnh hoạn.
Này
Thiện nam tử! Lúc Đại Mục Kiền Liên vâng lời ta đến hỏi thuốc nơi Kỳ Bà y
vương. Kỳ Bà không mặt mũi nào dám chỉ thuốc cho Như Lai nên chẳng đáp thẳng mà
chỉ nói rằng: chỉ nên ăn tô, chỉ nên ăn tô. Đó là đức Như Lai thị hiện nghiệp
báo để cho hàng Thanh văn đệ tử đời sau nhớ biết mà chẳng thối chuyển.
Này
Thiện nam tử! Ngày trước đức Như Lai đuổi theo các nhà ngoại đạo khắp nơi như
Ni Kiền Tử v.v... để luận nghĩa tranh thắng. Đó là vì ta quan sát thương xót
các chúng sanh đời sau. Khiến các chúng sanh ấy nhớ biết rằng Đức Phật Như Lai
Chánh chơn Chánh giác mà còn có oan gia huống là chúng ta và những người khác.
Mà các ngu nhơn lại cho là thiệt, họ cho rằng đức Phật Như Lai thiệt có oan
gia.
Này
Thiện nam tử! Chuyển Luân Thánh Vương do chút ít phước mà còn không có oan gia,
huống là đức Như Lai đã thành tựu vô lượng vô biên công đức.
Này
Thiện nam tử! Ngày trước gai khư đà la đâm chân Như Lai. Đó là ta vì thương
chúng sanh đời sau mà thị hiện nghiệp báo, cho họ nhớ biết rằng đức Như Lai
thành tựu vô lượng vô biên công đức mà còn có nghiệp báo huống là chúng ta và
các người khác, do đó mà họ tránh bỏ nghiệp. Mà những ngu nhơn lại cho là
thiệt, họ cho rằng đức Như Lai bị gai đâm chân.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Có
phải Đề Bà Đạt Đa là oan cừu từ đời trước của đức Phật, ông ấy tìm dịp để hại
Phật?”
Đức
Phật phán dạy: “Này Thiện nam tử! Nếu không có thiện tri thức Đề Bà Đạt Đa thì
trọn chẳng biết được đức Như Lai vô lượng vô biên công đức.
Này
Thiện nam tử! Đề Bà Đạt Đa là thiện tri thức. Ông ấy tranh thắng với ta mà thị
hiện oan gia để hiển bày vô lượng công đức của Như Lai.
Này
Thiện nam tử! Ông bạn lành Đề Bà Đạt Đa ở trong cung nội nói với Vua A Xà Thế
làm hại đức Như Lai. Lúc ấy nhà Vua cố ý thả voi Hộ Tài để đạp ta. Đức Như Lai
thấy voi liền điều phục nó. Vô lượng chúng sanh thấy đức Như Lai điều phục được
voi Hộ Tài đều sanh lòng kính ngưỡng mà phát tâm tin mến quy y Tam Bửu, đó là
Phật Bửu, Pháp Bửu và Tăng Bửu. Do cớ sự như vậy nên biết Đề Bà Đạt Đa là thiện
tri thức từ lâu theo làm oan gia của Phật. Mà các ngu nhơn lại cho đó là thiệt,
họ nói Đề Bà Đạt Đa hại đức Phật, là oan gia của đức Phật.
Này
Thiện nam tử! Cho đến từ quá khứ trong năm trăm đời sanh chỗ nào, Đề Bà Đạt Đa
là thiện tri thức mà thị hiện làm oan gia để hiển bày chư Bồ tát và Như Lai có
vô lượng công đức. Mà các ngu nhơn lại cho là thiệt, họ cho rằng Đề Bà Đạt Đa
là kẻ hại Phật, là oan gia của Phật. Do sự nhận định bất thiện ấy, nên các ngu
nhơn ấy phải đọa trong tam đồ: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh, những xứ khổ não.
Tại sao vậy? Này Thiện nam tử! Đề Bà Đạt Đa là thiện tri thức. Ông ấy đã khéo
tu vô lượng công đức thù thắng, khéo tu căn lành, gần gũi chư Phật gieo trồng
cội công đức, tâm hướng về Đại thừa, thuận về Đại thừa, đến bờ Đại thừa, đã gần
Vô thượng Bồ đề. Vì các ngu nhơn kia hủy báng ông ấy nên đời vị lai họ sanh vào
trong các ác đạo: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Còn
việc đức Thế Tôn vào khất thực trong thôn Xa Lê Gia Bà la môn tại thành Xá Vệ
mang bát không mà ra là thế nào?”
Đức
Phật phán dạy: “Này Thiện nam tử! Việc ấy cũng là vì thương xót chúng sanh đời
sau mà hiện ra như vậy. Để cho người đời sau nhớ biết rằng: đức Phật đầy đủ vô
lượng công đức còn mang bát không mà đi ra, huống là chúng ta và các người
khác.
Này
Thiện nam tử! Có kẻ bảo đó là ma Ba Tuần khuyên các nhà Bà la môn Trưởng giả Cư
sĩ đừng cúng dường đức Như Lai. Lời nói ấy cũng chẳng đúng. Tại sao vậy? Này
Thiện nam tử! Ma vương Ba Tuần không có năng lực khuyên được các Trưởng giả
đừng dâng cúng đức Như Lai.
Này
Thiện nam tử! Việc ấy chớ nên quan niệm như vậy. Vì Ma vương không đủ sức ngăn
chận sự cúng dường đức Như Lai. Đó là đức Như Lai sai khiến Ma vương đến nói
với các Trưởng giả v.v... để họ không cúng dường.
Này
Thiện nam tử! Đức Như Lai đã diệt hết các chướng ngại, đã thành tựu vô lượng
công đức thù thắng, không bao giờ có ai làm chướng ngại được sự cúng dường đức
Như Lai.
Đức
Như Lai không có nghiệp báo thiệt. Chỉ vì muốn cho các chúng sanh đắc đạo mà
thị hiện các sự việc phương tiện thiện xảo như vậy.
Này
Thiện nam tử! Đức Như Lai nếu đoạn một bữa ăn, khiến hàng Thanh văn và Ma
vương, Thiên, Long Bát bộ cùng chư Thiên nghĩ rằng chớ để quyến thuộc sanh lòng
lo khổ. Vì những sự việc như vậy nên đức Như Lai ngày đêm thị hiện khiến họ
sanh một tâm niệm bất thiện, cho đời sau biết rằng đức Như Lai đã dứt khỏi tam
giới mà còn có sự việc ấy huống là chúng ta và các người khác.
Lúc
ta hiện ra sự việc ấy, có bảy vạn chư Thiên sanh lòng tin thanh tịnh đối với
đức Như Lai. Biết lòng tin của tám vạn chư Thiên ấy, đức Như Lai liền vì họ mà
thuyết pháp. Họ nghe pháp rồi đều được pháp nhãn thanh tịnh.
Này
Thiện nam tử! Vì sự lợi ích như vậy và vì quan sát thương xót các chúng sanh
đời sau nên thị hiện các sự việc ấy. Đức Như Lai không có nghiệp báo như vậy.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Còn
việc nàng Tôn Đà Lê dùng gáo gỗ độn bụng vu báng đức Như Lai thì thế nào?”
Đức
Phật dạy: “Này Thiện nam tử! Việc ấy cũng chẳng phải vậy. Đức Như Lai đã thành
tựu vô lượng công đức, không có hoạn nạn về nghiệp báo.
Này
Thiện nam tử! Thần lực của đức Như Lai có thể đem những người như nàng Tôn Đà
Lê ra ngoài vô lượng hằng hà sa thế giới, mà vẫn bị vu báng đó là đức Như Lai
dùng sức phương tiện hiển thị nghiệp báo. Đời sau này hàng đệ tử của ta, người
phước bạc dầu được xuất gia trong pháp của Phật nếu bị vu báng hoặc lại thối
thất, bởi họ chẳng suy nghĩ lời dạy của Phật mà quan niệm rằng: nay tôi đã bị
vu báng, tôi chẳng nên còn ở trong chánh pháp của Phật. Vì muốn cho những hàng
đệ tử ấy nhớ biết rằng chư Phật Như Lai đầy đủ trọn vẹn tất cả pháp lành, đã
dứt pháp ác, mà còn có ác đối bị vu báng như vậy, huống là tôi và những người
khác. Vì họ nhớ biết như vậy nên chẳng còn thối thất mà vẫn tu phạm hạnh.
Này
Thiện nam tử! Nàng Tôn Đà Lê v.v... sanh ác tâm, do thần lực của Phật, làm cho
họ chiêm bao để được khai ngộ: nếu tôi thiệt vu báng đức Phật, lúc thân tôi
chết ắt phải đọa ác đạo.
Này
Thiện nam tử! Nếu đức Như Lai biết là người có thể phòng hộ được tất liền phòng
hộ họ. Vì thế nên Như Lai thị hiện sự việc như vậy.
Này
Thiện nam tử! Không có một chúng sanh nào mà Như Lai bỏ sót, nên thị hiện như
vậy.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Còn
việc ngày trước đức Như Lai ở tại nước Tỳ Lan Đa nhận lời thỉnh an cư ba tháng
của Tỳ Lan Nhã Bà la môn mà ăn cơm lúa mạch là thế nào?”
Đức
Phật phán: “Này Thiện nam tử! Cũng là vì thương chúng sanh đời sau mà ta hiện
ra sự việc ấy.
Này
Thiện nam tử! Đức Như Lai thiệt biết các Bà la môn Cư sĩ v.v... thỉnh an cư mà
chẳng cúng dường nhưng vẫn nhận lời an cư tại xứ ấy.
Tại
sao vậy? Này Thiện nam tử! Tại chỗ ta an cư ấy có năm trăm con ngựa, phần lúa
mạch của bầy ngựa ấy cung cấp đủ cho chúng Tăng trong ba tháng.
Này
Thiện nam tử! Bầy ngựa ấy đều là đại Bồ tát đã từng trồng cội phước đức, mà vì
gặp bạn ác gây tạo nghiệp ác nên phải sanh làm thân súc sanh.
Này
Thiện nam tử! Người chăn nuôi bầy ngựa ấy chính là Ngài Nhựt Tạng Bồ tát do
nguyện lực mà sanh ở đó. Ngài Nhựt Tạng Bồ tát khuyến cáo năm trăm con ngựa
phát tâm Bồ đề cho chúng được thoát khỏi ác báo. Cũng vì việc ấy mà Ngài nguyện
sanh ở đó. Do sức khéo giỏi chăn nuôi của Ngài mà năm trăm con ngựa ấy đều nhớ
được đời trước phát tâm Bồ đề giác ngộ bổn tâm.
Này
Thiện nam tử! Vì thương bầy ngựa ấy mà Như Lai nhận lời thỉnh an cư ở xứ ấy.
Lúa mạch phần ăn của người chăn ngựa thì cấp cho Như Lai, phần lúa mạch của năm
trăm con ngựa thì cấp cho chúng Tăng.
Này
Thiện nam tử! Người chăn ấy dùng âm thanh của loài ngựa dạy năm trăm con ngựa
ấy sám hối khuyên nó phát tâm. Lại làm cho bầy ngựa sanh lòng kính trọng đối
với Tam Bửu.
Này
Thiện nam tử! Quá ba tháng, năm trăm con ngựa ấy bỏ thân sanh lên trời Đao lợi.
Đức Như Lai vì họ thuyết pháp cho họ được thọ ký Vô thượng Bồ đề.
Này
Thiện nam tử! Ở xứ ấy có bao nhiêu người chăn ngựa, người giữ ngựa, đức Như Lai
thọ ký cho họ sẽ thành tựu tâm tự điều phục được đạo Duyên giác.
Này
Thiện nam tử! Trong thế gian không có món ăn nào mà khi đức Như Lai ăn lại
chẳng thành mùi vị thơm ngon vi diệu.
Này
Thiện nam tử! Giả sử các vật như đất cục ngói đá v.v... được Như Lai ăn cũng
đều thành món ăn có mùi vị vi diệu cả.
Này
Thiện nam tử! Món ăn được đức Như Lai ăn đều thành thượng vị cả, trong cõi Đại
Thiên khắp thế gian không có món ăn của ai ăn mà có thể sánh bằng được.
Tại
sao vậy? Bởi đức Như Lai đã được tướng hảo đại trượng phu được thượng vị trong
các vị được thượng vị trong các món ăn vậy.
Này
Thiện nam tử! Nay ông phải nhận biết sở thực của đức Như Lai đều là vị vi diệu
không món nào sánh bằng.
Này
Thiện nam tử! A Nan Tỳ kheo vì thương mến ta nên nói rằng: Đức Như Lai vốn dòng
Chuyển Luân Thánh Vương bỏ ngôi xuất gia sao lại phải ăn cơm lúa mạch?
Biết
tâm niệm của A Nan, đức Như Lai liền trao một hột cơm
lúa mạch cho A Nan mà bảo rằng: Ông nếm coi đó là mùi vị gì?
A Nan ăn rồi lấy làm lạ lùng bạch với ta rằng: Bạch đức Thế Tôn! Tôi sanh trưởng
trong hoàng gia mà chưa bao giờ được ăn món nào có mùi vị ngon thơm như vậy.
Này
Thiện nam tử! Do ăn thượng vị ấy mà A Nan thân tâm an ổn bảy ngày chẳng cần ăn.
Này
Thiện nam tử! Do những cớ sự ấy nên biết đức Như Lai không có nghiệp báo.
Nhưng
chư Cư sĩ Bà la môn kia thỉnh chư Tỳ kheo thanh tịnh có đức qua ở xứ ấy mà
chẳng cúng dường, cũng để thị hiện quả báo.
Này
Thiện nam tử! Bà la môn kia thỉnh Phật và Tăng mà chẳng cúng dường, ông nên xem
thần lực của Như Lai, đức Như Lai thọ ký Bà la môn kia chẳng bị đọa vào ác đạo.
Này
Thiện nam tử! Trong hàng chư Tăng năm trăm Tỳ kheo cùng ta an cư lúc ấy, có bốn
mươi Tỳ kheo có nhiều tâm tham, vì họ chẳng quán được hạnh bất tịnh, nếu họ
được món ăn ngon vừa ý thì sẽ đều thối đạo. Do họ ăn cơm lúa mạch của ngựa nên
họ chẳng sanh lòng dục, quá bảy ngày, cả bốn mươi Tỳ kheo ấy đều được quả A La
Hán.
Này
Thiện nam tử! Đức Như Lai có trí phương tiện thiện xảo biết rõ tâm tánh của
chúng sanh, vì độ chúng sanh mà Như Lai nhận sự thỉnh ấy.
Này
Thiện nam tử! Đại Bồ tát khéo thành tựu những sự thị hiện giáo pháp thậm thâm
bí mật như vậy. Nếu biết như vậy thì gọi là khéo hiểu giáo pháp bí mật của đức
Như Lai.”
Vì
tuyên bày nghĩa ấy, đức Thế Tôn nói kệ rằng:
Khéo
biết pháp môn tiệm
Và
biết pháp môn đốn
Trong
tâm khéo biết rõ
Chư
Bồ tát thị hiện
Khéo
biết bí mật giáo
Xa
lìa những nghi hoặc
Khéo
biết lời Phật dạy
Những
giáo pháp bí mật.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Thế
nào là đại Bồ tát chẳng cầu Thanh văn thừa và Duyên giác thừa?”
Đức
Phật phán: “Này Thiện nam tử! Dầu đại Bồ tát có ở địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh
chịu khổ rất nặng chẳng thể kể nói, nhưng tâm các Ngài vẫn chẳng cầu Thanh văn
thừa và Duyên giác thừa, cũng không có tâm cầu tự giải thoát, chẳng nghĩ thiểu
dục, chẳng nghĩ thiểu tác, chẳng làm sự thiểu dục chẳng làm sự thiểu tác.
Này
Thiện nam tử! Với các chúng sanh thiện nghiệp, Bồ tát cùng họ đồng sự, nhưng
chính là Bồ tát khuyên họ làm lành phát tâm Vô thượng Bồ đề vậy.
Này
Thiện nam tử! Vì thành tựu pháp như vậy nên đại Bồ tát chẳng cầu Thanh văn thừa
và Duyên giác thừa.”
Vì
tuyên bày nghĩa ấy, đức Thế Tôn nói kệ rằng:
“Thường
giáo hóa chúng sanh
Tâm
chẳng biết mệt mỏi
Với
Vô thượng Bồ đề
Vững
chắc chẳng thối chuyển
Tâm
Bồ tát chẳng động
Dường
như núi Tu Di
Tu
tập tâm từ bi
Chẳng
cầu Nhị thừa đạo.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Đức
Như Lai đã nói Bồ tát thành tựu những pháp như vậy nên gọi là hành Đại thừa,
trụ Đại thừa. Nhưng đức Như Lai chẳng nói do nghĩa gì mà Đại thừa ấy được tên
là Đại thừa.”
Đức
Phật phán: “Này Thiện nam tử! Nay ta hỏi ông tùy ý ông đáp.
Này
Thiện nam tử! Chuyển Luân Thánh Vương mang đủ bốn binh chủng đi qua những con
đường.
Con
đường được Thánh Vương đi ấy dùng danh từ gì để gọi?”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Con
đường ấy gọi là Vương Đạo, là Đại Đạo, là Vô Úy Đạo, là Vô Ngại Đạo, là con
đường hơn tất cả đường của các Quốc Vương.”
Đức
Phật dạy: “Này Thiện nam tử! Đạo sở hành của chư Phật Như Lai Chánh chơn Chánh
giác gọi là Đại thừa, là thượng thừa, là diệu thừa, là thắng thừa, là Vô thượng
thừa, là Vô thượng thượng thừa, là vô đẳng thừa, là vô đẳng đẳng thừa, là bất
ác thừa.
Này
Thiện nam tử! Vì nghĩa ấy nên gọi là Đại thừa.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Đức
Thế Tôn nói danh nghĩa Đại thừa như vậy thiệt là rất hay.”
Lúc
đức Như Lai nói mười pháp Đại thừa ấy, Ma vương Ba Tuần nghĩ rằng ngày nay Sa
môn Cù Đàm quá cảnh giới của tôi. Nếu tôi cụ bị bốn binh chủng làm não ông Cù
Đàm cho ông chẳng nói pháp môn ấy được. Nghĩ xong, Ma vương Ba Tuần mang bốn
binh chủng đến núi Kỳ Xà Quật nơi thành Vương Xá.
Lúc
ấy, Ngài Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát thấy ma Ba Tuần mang bốn
binh chủng đến muốn làm não đức Như Lai để Như Lai chẳng nói pháp môn ấy được,
Bồ tát liền hiển hiện thần thông khiến ma Ba Tuần đến ngã tư đường trong thành
Vương Xá xướng to rằng: “Hỡi nhơn dân Vương Xá Thành nên biết rằng ngày hôm nay
tại núi Kỳ Xà Quật, Sa môn Cù Đàm vì tứ chúng thuyết pháp, sơ trung và hậu đều
lành, văn nghĩa sâu xa đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh. Mọi người nên đến núi Kỳ Xà
Quật nghe Sa môn Cù Đàm thuyết pháp. Mọi người nghe pháp sẽ được đại an lạc đại
lợi ích!”
Được
sự khuyến cáo của Ma vương Ba Tuần, nhơn dân trong thành Vương Xá: Bà la môn,
Sát lợi, Trưởng giả, Cư sĩ v.v... mang theo hoa hương phan lọng ra khỏi thành
Vương Xá đến núi Kỳ Xà Quật chỗ đức Thế Tôn ngự, đảnh lễ chân Phật tôn trọng
tán thán rồi ngồi một phía.
Ma
vương Ba Tuần cũng cùng bốn binh chủng đến chỗ đức Như Lai hóa ra hoa trời mạn
đà la rải cúng đức Như Lai rồi ngồi một phía.
Biết
ma ngồi xong, Ngài Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát nói với Ma
vương Ba Tuần rằng: “Này Ba Tuần! Duyên cớ gì ông mang binh ma đến muốn làm não
và ngăn trở đức Như Lai nói pháp môn ấy?
Nay
ông phải đối với đức Như Lai sanh lòng hổ thẹn, lòng sám hối. Bằng không ông sẽ
tự hại mãi mãi và mắc khổ báo.”
Nghe
lời Bồ tát, Ma vương Ba Tuần chắp tay lễ chân đức Phật, sanh lòng hổ thẹn, lòng
sám hối mà bạch rằng: “Ngày hôm nay tôi rất sợ đức Như Lai. Rất lạ lùng thay
đức Như Lai. Xin đức Đại Thọ thọ tôi sám hối. Tôi ngu si không có trí huệ,
không có trí thiện xảo, chẳng tự tiếc thân mà sanh ác tâm đối với đức Như Lai,
lại muốn pháp môn ấy dứt tuyệt.
Lành
thay đức Thế Tôn! Xin lại thọ tôi sám hối.”
Đức
Phật phán: “Lành thay, lành thay! Nuôi lớn thiện căn.
Này
Ba Tuần! Trong pháp của Phật, nếu có thiện nam thiện nữ hay khởi tâm sám hối để
cầu thanh tịnh. Lành thay cho Ba Tuần!”
Bấy
giờ Ma vương Ba Tuần đến đứng trước đức Phật bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Phải
chăng các kinh của Phật đều dứt ác ngữ và bất thiện ngữ?”
Đức
Phật phán: “Đúng như vậy.”
Ma vương
Ba Tuần bạch rằng: “Sao đức Như Lai là Pháp Vương là Pháp Chúa đủ pháp tự tại
mà gọi tôi là Ba Tuần, lại dùng tên ấy để gọi tôi?”
Đức
Phật phán: “Này Ba Tuần! Nay ta vì ông mà nói ví dụ.
Này
Thiện nam tử! Ví như Trưởng giả Cư sĩ giàu có vô lượng chỉ có một con trai rất
thương yêu, chẳng rời trước mắt đem sanh mạng mình buộc chặt với con. Nhưng đứa
con trai ấy tánh tình ngang ngược rất hung dữ. Vì thương yêu nên Trưởng giả Cư
sĩ dùng gậy đánh nó, muốn nó bỏ tánh xấu.
Này
Thiện nam tử! Trưởng giả Cư sĩ ấy đánh đập đứa con như vậy mà có ác tâm chăng?”
Ma
vương Ba Tuần bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Không có ác tâm. Vì thương yêu muốn
cho con nên người mà làm như vậy.”
Đức
Phật dạy: “Này Thiện nam tử! Phải biết rằng đức Như Lai Chánh chơn Chánh giác
biết rõ tâm tánh căn dục của chúng sanh: Kẻ nên dùng ác ngôn được độ thì Như
Lai dùng ác ngôn, kẻ nên dùng nín lặng không nói mà được độ thì Như Lai dùng
nín lặng, kẻ nên dùng đuổi xua mà được độ thì Như Lai dùng đuổi xua, kẻ nên
dùng thuyết pháp mà độ thì Như Lai vì họ mà thuyết pháp, kẻ nên dùng nhiếp thọ
được độ thì Như Lai nhiếp thọ họ, kẻ nên thấy sắc thân Phật mà được độ thì Như
Lai thị hiện sắc thân cho họ thấy, kẻ nên nghe tiếng hoặc nghe mùi vị chạm xúc
mà được độ thì Như Lai hiện thuyết pháp nhẫn đến hiện mùi vị và chạm xúc để độ
họ.”
Ma
vương Ba Tuần vui mừng hớn hở lại chắp tay đảnh lễ chân đức Phật mà bạch rằng:
“Bạch đức Thế Tôn! Phàm chỗ nào xứ nào có nói pháp môn này, hoặc thôn xóm thành
ấp vương đô, tôi vì nghe pháp nên đến nơi ấy hộ trì pháp môn này, cũng thủ hộ
pháp khí thọ trì pháp môn này.
Bạch
đức Thế Tôn! Lúc tôi đến nơi ấy tất có các tướng dạng, các tướng tịch định rời
lìa chướng thùy miên, tôi lại làm cho những pháp khí thượng thắng ở các nơi
khác đến đó hỏi pháp, hoặc đọc tụng hoặc thọ trì, tất cả đều được thân tâm an
lạc chẳng sanh lòng kiêu mạn. Tùy người nói pháp này hoặc nói rộng hoặc nói
lược, đều khiến sanh lòng hoan hỷ đối với đức Như Lai, và đức Như Lai cũng sanh
lòng hoan hỷ đối với họ.
Các
chúng sanh ấy, khi lòng họ đã hoan hỷ thì thiện căn thêm lớn, pháp ác tiêu
diệt.”
Lúc
ấy trong đại chúng có các nhà ngoại đạo Ni Kiền Tử v.v... nghe Ma vương Ba Tuần
đối trước đức Phật sám hối phát nguyện như vậy, lòng họ rất vui mừng hớn hở vô
lượng được vô sanh nhẫn.
Ngài
A Nan bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Do nhơn duyên gì lúc nói pháp này chư ngoại
đạo ấy được vô sanh nhẫn?”
Đức
Phật dạy: “Này A Nan! Quá vô lượng kiếp về trước, tại thành Vương Xá núi Kỳ Xà
Quật này có đức Phật hiệu là Thượng Lực Túc Như Lai Chánh chơn Chánh giác. Đức
Phật ấy thuyết pháp tại nơi đây.
Đức
Phật ấy thuyết pháp xong, có chư ngoại đạo đến muốn làm não Như Lai, họ lại
muốn làm trở ngại đức Phật nói pháp môn này. Nhưng sau khi nghe pháp, chư ngoại
đạo ấy sanh lòng vui mừng ca ngợi đức Phật ấy và sanh lòng kính ngưỡng. Do nhơn
duyên ấy nên trong sáu mươi kiếp, họ chẳng bị đọa địa ngục ngạ quỷ súc sanh mà
chỉ thọ sanh ở trong người cõi trời. Sanh ở chỗ nào họ vẫn nhớ nghĩ đức Phật
Thượng Lực Túc ấy. Dầu họ nhớ Phật mà không gặp thiện hữu.
Này
A Nan! Chư ngoại đạo thuở xưa ấy là các nhà ngoại đạo Ni
Kiền Tử v.v... trong đại chúng đây vậy.
Các
nhà ngoại đạo ấy thuở xưa có ác ý muốn trở ngại pháp môn này và làm não đức
Phật Thượng Lực Túc. Nhưng sau khi nghe pháp sanh lòng vui mừng kính ngưỡng
niệm Phật, nay đáng được ta thọ ký Vô thượng Bồ đề, huống là họ lại được vô
sanh nhẫn.”
Lúc
đức Thế Tôn nói pháp môn trên đây, có một muôn hai ngàn chúng sanh xa trần lìa
cấu được pháp nhãn thanh tịnh, hai muôn chúng sanh phát tâm Vô thượng Bồ đề.”
Tôn
giả A Nan bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nếu có thiện nam thiện nữ đối với pháp
môn này sanh một niệm kính tin thì được vô lượng công đức, huống là người đọc
tụng thọ trì ủng hộ rộng nói cho người khác.”
Đức
Phật dạy: “Này A Nan! Nếu có thiện nam thiện nữ khuyên vô lượng chúng sanh phát
tâm Vô thượng Bồ đề. Lại có thiện nam thiện nữ, nơi pháp môn này, sanh một niệm
kính tin đọc tụng vì người mà rộng nói được phước nhiều hơn người trên.
Tại
sao vậy?
Này
A Nan! Bởi pháp môn này là con đường của Nhứt thiết chủng trí.
Này
A Nan! Nếu có nam tử nữ nhơn nghe pháp môn này và thấy Pháp sư thọ trì pháp môn
này mà sanh ác ý thì mắc tội vô lượng hơn tội trước.”
Ngài
Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang đại Bồ tát bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Nếu
có nam tử nữ nhơn hủy báng kinh này thì mắc tội thế nào mà đức Như Lai nói mắc
tội hơn trước.”
Đức
Phật dạy: “Này Thiện nam tử! Nếu có nam tử nữ nhơn trong một thời gian móc mắt
của tất cả chúng sanh, nếu lại có nam tử nữ nhơn sanh một niệm ác ý đối với
pháp môn này và người thọ trì thì mắc tội hơn người trên.
Tại
sao vậy?
Vì
pháp môn này có tên là quang minh, hay ban bố con mắt trí huệ cho tất cả chúng
sanh.”
Ngài
A Nan bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Chẳng nên ở trước nam tử nữ nhơn bất tín mà
nói pháp môn này. Tại sao vậy? Vì cần phải thủ hộ chúng sanh vậy.
Bạch
đức Thế Tôn! Tôi từng thấy người tạo nghiệp duyên hủy báng chánh pháp phải đọa
vào địa ngục ngạ quỷ và súc sanh.”
Đức
Phật phán: “Này A Nan! Nên nói pháp môn này, chẳng nên chẳng nói.
Tại
sao vậy? Vì để làm nhơn cho họ, khiến họ tu hành được Vô thượng Bồ đề.”
Tôn
giả A Nan bạch rằng: “Bạch đức Thế Tôn! Pháp môn này nên đặt tên là gì và phụng
trì thế nào?”
Đức
Phật phán: “Này A Nan! Do vì nói mười pháp nên gọi pháp môn này là Thập Pháp
Pháp Môn, phải thọ trì như vậy.
Lại
cũng gọi là Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương Quang Bồ Tát Sở Vấn, phải thọ trì như
vậy.”
Lúc
đức Phật nói pháp môn này rồi, Tôn giả A Nan, Ngài Tịnh Vô Cấu Bửu Nguyệt Vương
Quang đại Bồ tát và chư đại Bồ tát, chư Thanh văn cùng Thiên, Long Bát bộ, tất
cả chúng hội nghe lời Phật dạy đều rất vui mừng đảnh thọ phụng hành./.
(PHÁP
HỘI ĐẠI THỪA THẬP PHÁP - THỨ CHÍN HẾT)
|