Home Kinh bộ bắc truyền Kinh Đại Bảo Tích VIII.55-56 Kinh Đại Bảo Tích Tập VIII
23 | 11 | 2008
VIII.55-56 Kinh Đại Bảo Tích Tập VIII PDF. In Email
Kinh bộ bắc truyền - Kinh Đại Bảo Tích
Viết bởi Thích Trí Tịnh   
Chỉ mục bài viết
VIII.55-56 Kinh Đại Bảo Tích Tập VIII
Ch. 55 Pháp Hội Hư Không Tạng B.T 55.2
Ch. 55 Pháp Hội Hư Không Tạng B.T 55.3
Ch. 55 Pháp Hội Hư Không Tạng B.T 55.4
Ch. 56 Pháp Hội Vô Ngôn B.T
Tất cả các trang
Chương 55 Pháp Hội Hư Không Tạng, chương 56 Pháp Hội Vô Ngôn Bồ Tát

Chương LV: PHÁP HỘI HƯ KHÔNG TẠNG BỒ TÁT - THỨ NĂM MƯƠI LĂM

(Hán bộ từ quyển 137 đến quyển 141)

Hán dịch: Bắc Lương, Tam Tạng Đàm Vô Sấm.

Việt dịch: Việt Nam, Tỳ kheo Thích Trí Tịnh.

Như vậy tôi nghe một lúc đức Phật ở trên nhà Diệu Bửu Trang Nghiêm giảng đường chỗ sở hành của Như Lai.

Như Lai oai thần đại công đức trang nghiêm đầy đủ các tướng tốt. Nhơn nơi bổn hành Phật địa được báo cung điện Bồ tát xưng tán vô lượng, do thần lực Như Lai kiến lập, nhập vô ngại trí hành xứ sanh hỷ duyệt thù thắng, tư duy quán niệm tinh tiến trí huệ phân biệt xảo thuyết các công đức như vậy đều đầy đủ. Được đời sau khen rằng: Đức Thế Tôn Chánh giác khéo chuyển pháp luân, khéo có thể điều thuận tất cả chúng sanh, ở trong các pháp đều được tự tại, biết các chúng sanh tâm họ hướng đến chỗ nào, khéo có thể rốt ráo phân biệt tất cả các căn, khéo dứt hết những tập khí không còn dư, Phật sự được làm tự nhiên thành tựu. Cùng chúng đại Tỳ kheo sáu trăm vạn người câu hội. Chư đại Tỳ kheo ấy tâm đã điều nhu kiết sử đã dứt, đều là con của Như Lai Pháp Vương hành pháp thậm thâm, khéo có thể biết rõ pháp vô sở hữu, thân các Ngài đoan chánh xinh đẹp đầy đủ oai nghi, đều là đại phước điền an trụ trong giáo pháp của đức Như Lai.

Còn có chư đại Bồ tát Tăng câu hội. Chư đại Bồ tát này đã qua khỏi tất cả các hành mà chẳng bỏ sở hành của Bồ tát, được vô sanh nhẫn mà đối với các chúng sanh chẳng xả đại bi, quá các thế gian mà thuận thế pháp siêng hóa độ chúng sanh, cũng có thể khéo nhập vào chỗ sở hành của Như Lai, mà lại chẳng rời chỗ sở hành của Bồ tát. Danh hiệu các Ngài là: Nhựt Phổ Minh Bồ tát, Vô Ngại Nhãn Bồ tát, Nhứt Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ tát, Vô Ngại Hành Xứ Bồ tát, Phân Biệt Biện Giác Bồ tát, Tịnh Vô Lượng Võng Minh Đăng Vương Bồ tát, Bất Nhiễm Hành Xứ Bồ tát, Hoại Ma Giới Phóng Quang Minh Bồ tát, có bất khả kế a tăng kỳ bất khả tư bất khả xưng bất khả lượng vô tề hạn bất khả thuyết Bồ tát Ma ha tát như vậy câu hội.

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn nói hạnh xuất yếu của chư Bồ tát gọi là vô ngại pháp môn, trang nghiêm Bồ tát đạo thành tựu Phật pháp thập lực tứ vô sở úy, được biết các pháp tự tại nhập vào môn ấn Đà la ni, nhập vào môn phân biệt biện luận, nhập vào môn đại thần thông, nhập vào môn bất thối chuyển luân chư thừa bình đẳng, nhập vào môn nhứt tướng pháp giới vô phân biệt, nhập vào môn thuyết pháp tùy chúng sanh căn giải liễu sai biệt, nhập vào môn kiên pháp phân biệt phá ma giới thiện thuận tư duy, nhập vào môn vô ngại trí huệ đoạn trừ kiết sử kiến chấp, nhập vào môn vô đẳng nguyện phương tiện trí, nhập vào môn chư Phật đẳng trí, nhập vào môn chư pháp vô ngại như thiệt phân biệt, nhập vào môn vô biến dị bình đẳng pháp, nhập vào môn thậm thâm thập nhị nhân duyên, nhập vào môn công đức trí huệ trang nghiêm Phật thân khẩu ý, nhập vào môn kiên cố tư duy tinh tiến niệm huệ vô tận, nhập vào môn Thánh đế vì điều phục hàng Thanh văn vậy, nhập vào môn viễn ly thân tâm hành vì điều phục hàng Bích Chi Phật vậy, nhập vào môn thọ ký Nhứt thiết trí, vì điều phục hàng Bồ tát vậy, nhập vào môn chư pháp tự tại vì hiển Phật công đức vậy, khai thị giải nói hiển thị cho người được điều phục khiến họ được hiểu, dạy họ đọc sắp đặt thứ tự mở bày phân biệt khiến dễ tùy thuận chánh thuyết.

Lúc đức Thế Tôn khéo phân biệt phương tiện nhập vào Phật pháp như vậy, toàn cõi Đại Thiên thế giới này, tất cả sắc màu hình tượng như núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi Tu Di, các hắc sơn, Tứ thiên hạ, thành ấp tụ lạc trong Diêm Phù Đề, đại hải giang hà, cỏ cây lùm rừng, cung điện của Rồng, Dạ xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la, Khẩn na la, Ma hầu la già, cung điện của Địa Thần, của Hư Không Thần, cung điện của Trời Tứ Vương Thiên, Đao lợi thiên, Dạ ma thiên, Đâu suất đà thiên, Hóa lạc Thiên, Tha Hóa Tự Tại Thiên, cung điện của Phạm Thiên đến Sắc Cứu Cánh Thiên, cùng sắc thân của các chúng sanh thảy đều bị che ẩn mắt không thấy được, dường như là lúc kiếp tận sau khi hỏa tai khởi cả đại địa đều cháy tan mà đại thủy chưa xuất hiện, lúc bây giờ không còn có một màu sắc một hình tượng nào làm đối tượng cho nhãn căn cả. Cõi Đại Thiên thế giới lúc bây giờ cũng giống như vậy không có một chút hình sắc nhiếp về Dục giới và Sắc giới, duy trừ những sắc tượng được thấy trong nhà Diệu Bửu Trang Nghiêm Đường.

Bấy giờ ở hư không nơi chẳng có y tựa phía trên nhà Diệu Bửu Trang Nghiêm Đường, tự nhiên có vô lượng trăm ngàn na do tha bửu đài trang nghiêm vi diệu được thế gian thích thấy, như thế giới Đại Diệu trang nghiêm quốc độ của đức Phật Nhứt Bửu Trang Nghiêm đài báu của chư Bồ tát ngồi. Các đài báu này cũng như vậy thấy chư đại chúng ngồi trong bửu đài.

Trong nhà Diệu Bửu Trang Nghiêm Đường tự nhiên hiện ra tòa sư tử bằng chân kim tịnh diệu cao mười ngàn do tuần, phát ra quang minh tịnh diệu soi khắp cõi Đại Thiên thế giới này, ánh sáng ấy làm luốt mất ánh sáng của chư Bồ tát.

Lúc bấy giờ đại chúng hoan hỷ hớn hở tâm tình vui đẹp khen chưa từng có, chắp tay hướng Phật bạch rằng: "Đức Như Lai ngày hôm nay quyết định nói đại pháp nên hiện thoại ứng này.”

Tôn giả Xá Lợi Phất thừa oai thần của Phật, từ bửu tòa đứng dậy chỉnh lại y phục trịch bày vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay hướng lên Phật mà bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Đây là thoại tướng gì có những sự sanh lòng vui đẹp thù thắng phát hiện đại thần biến như vậy. Bạch đức Thế Tôn! Đại chúng đây đều nghi hoặc, mong đức Như Lai nói nhơn gì duyên gì mà hiện ra sự vị tằng hữu này.”

Đức Phật nói: "Này Xá Lợi Phất! Phương Đông cách đây quá số thế giới như số vi trần của tám Phật thế giới, có quốc độ tên Đại Trang Nghiêm, Phật hiệu Nhứt Bửu Trang Nghiêm Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hành Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn nay hiện tại thuyết pháp. Có nhơn duyên gì mà cõi ấy có tên là Đại Trang Nghiêm? Vì những sự trang nghiêm ở cõi ấy dầu nói rộng ra đến một kiếp cũng chẳng hết, vì lẽ ấy mà có tên là Đại Trang Nghiêm.

Lại có nhơn duyên gì mà đức Phật ở cõi Đại Trang Nghiêm ấy hiệu là Nhứt Bửu Trang Nghiêm?

Này Xá Lợi Phất! Đức Như Lai ấy nhơn một báu mà thuyết pháp, đó là báu Đại thừa Vô thượng vậy, do đây mà hiệu là Nhứt Bửu Trang Nghiêm Như Lai.

Đức Phật Nhứt Bửu Trang Nghiêm ấy cùng chư Bồ tát đều lên ngồi tòa sư tử vọt ở hư không cao bằng tám mươi ức cây đa la, Phật vì chư Bồ tát nói pháp môn hư không ấn.

Sao gọi là pháp môn hư không ấn?

Như tất cả pháp lấy hư không làm môn vì không có trụ xứ vậy, môn vô trụ xứ của tất cả pháp vì không có hình tướng vậy, môn vô hình tướng của tất cả pháp vì quá các hành xứ vậy, môn vô hành xứ của tất cả pháp vì trong ngoài thanh tịnh vậy, môn thanh tịnh của tất cả pháp vì tánh nó không ô nhiễm vậy, môn vô nhiễm của tất cả pháp vì tự tánh tịch tĩnh vậy, môn tịch tĩnh của tất cả pháp vì vốn không có tâm ý thức vậy, môn vốn không của tất cả pháp vì rời lìa vật và chẳng phải vật vậy, môn không có vật của tất cả pháp vì không có giáo tướng vậy, môn không có giáo tướng của tất cả pháp vì không có hình đoạn vậy, môn không có hình đoạn của tất cả pháp vì rời lìa nhơn duyên cảnh giới vậy, môn không có nhơn duyên cảnh giới của tất cả pháp vì tướng tịch diệt vậy, môn tịch diệt của tất cả pháp vì rời lìa hai tướng vậy, môn vô nhị của tất cả pháp vì xả biệt dị vậy, môn không có dị biệt của tất cả pháp vì nhập vào nhứt tướng vậy, môn nhứt tướng của tất cả pháp vì tự tướng thanh tịnh vậy, môn tự tướng thanh tịnh của tất cả pháp vì quá tam thế vậy, môn quá tam thế của tất cả pháp vì chẳng rời bình đẳng vậy, môn chẳng rời bình đẳng của tất cả pháp vì tướng ảo hóa chẳng phải tướng vậy, môn ảo hóa tướng của tất cả pháp vì thể chẳng thiệt vậy, môn không có thể của tất cả pháp vì không có tác tướng vậy, môn vô tác của tất cả pháp vì thân tâm xa lìa vậy, môn viễn ly của tất cả pháp vì lìa tướng lìa vô tướng vậy, môn vô tướng của tất cả pháp vì tướng bất động vậy, môn tướng bất động của tất cả pháp vì không có chỗ y dựa vậy, môn không có y xứ của tất cả pháp vì an trụ vô tế vậy, môn không có tế hạn của tất cả pháp vì không có ổ hang vậy, môn không có ổ hang của tất cả pháp vì không có ngã không có ngã sở vậy, môn không có ngã ngã sở của tất cả pháp vì không có chủ vậy, môn vô chủ của tất cả pháp vì tánh vô ngã vậy, môn vô ngã của tất cả pháp vì nội thanh tịnh vậy.

Này Xá Lợi Phất! Đức Nhứt Bửu Trang Nghiêm Như Lai vì chư Bồ tát mà nói rộng pháp môn hư không ấn như vậy. Lúc đức Như Lai ấy nói pháp có vô lượng a tăng kỳ chư Bồ tát hiểu biết các pháp tánh cùng hư không bình đẳng, ở trong các pháp được vô sanh nhẫn.

Này Xá Lợi Phất! Ở quốc độ Đại Trang Nghiêm ấy, chỗ Phật Nhứt Bửu Trang Nghiêm có một đại Bồ tát tên là Hư Không Tạng dùng đại trang nghiêm để tự trang nghiêm, nơi các nguyện bất khả tư nghị là tối thắng hơn cả, được oai đức trong tất cả công đức, được vô ngại trí kiến bất khả tư nghị, dùng Bồ tát công đức để tự trang nghiêm, dùng các tướng hảo để trang nghiêm thân mình, tùy chúng sanh đáng được độ dùng thiện thuyết pháp trang nghiêm miệng mình, dùng bất thối định trang nghiêm tâm mình, dùng các tổng trì trang nghiêm niệm, nhập vào các pháp vi tế trang nghiêm ý, thuận quán pháp tánh trang nghiêm tinh tiến, dùng kiên cố thệ trang nghiêm chí thuần, dùng quyết định xong trang nghiêm việc được làm, từ nhứt địa đến nhứt địa trang nghiêm cứu cánh, xả các sở hữu trang nghiêm bố thí, dùng tâm thanh tịnh lời nói lành trang nghiêm giới, với các chúng sanh tâm không chướng ngại trang nghiêm nhẫn nhục, các sự việc đều trọn đủ trang nghiêm tinh tiến, nhập định du hí thần thông trang nghiêm thiền, khéo biết phiền não tập khí trang nghiêm Bát nhã, vì cứu hộ chúng sanh trang nghiêm từ tâm, chẳng bỏ rời các chúng sanh trang nghiêm lòng bi, tâm không do dự trang nghiêm nơi hỷ, rời lìa các ghét thương trang nghiêm nơi xả, du hí các thiền định trang nghiêm thần thông, được tay vô tận bửu trang nghiêm công đức, phân biệt rõ tâm hành các chúng sanh trang nghiêm trí, dạy chúng sanh những pháp lành trang nghiêm nơi giác, được huệ sáng sạch trang nghiêm huệ minh, được đúng nghĩa pháp và từ trang nghiêm biện tài, phá ma và ngoại đạo trang nghiêm những vô úy, được Phật vô lượng công đức để tự trang nghiêm, thường dùng các lỗ lông thuyết pháp để trang nghiêm nơi pháp, thấy pháp minh của chư Phật để trang nghiêm tự minh, hay soi sáng các Phật quốc độ để trang nghiêm quang minh, lời nói không có lỗi lầm để trang nghiêm sở thuyết, thần thông theo chỗ thích nói để trang nghiêm giáo thọ, thần thông đến rốt ráo bốn thần túc để trang nghiêm biến hóa, thần thông nhập vào chỗ bí mật của Phật để trang nghiêm chư Như Lai, thần thông tự giác ngộ chánh trí để trang nghiêm pháp tự tại, như thuyết mà làm không gì có thể phá hoại được để trang nghiêm tất cả thiện pháp kiên cố.

Này Xá Lợi Phất! Hư không Tạng đại Bồ tát ấy thành tựu vô lượng công đức như vậy, nay cùng mười hai ức đại Bồ tát đồng phát ý muốn đến thế giới Ta Bà này lễ lạy ta cúng dường cung kính vây quanh, cũng vì kinh Đại Phổ Tập này mà phân biệt ít phần pháp môn, lại cũng vì chư Bồ tát từ mười phương đến hội sanh đại pháp minh, lại vì tăng ích khai pháp Đại thừa, lại vì thọ trì Như Lai pháp, lại vì vô lượng chúng sanh phát thiện căn, lại vì dùng thiện pháp điều phục các ma và ngoại đạo, lại vì thị hiện Bồ tát du hí thần thông vậy.

Hư Không Tạng Đại Bồ tát ấy muốn đến đây nên trước có thoại ứng như vậy.”

Lúc đức Thế Tôn nói sự ấy rồi, Hư Không Tạng Bồ tát cùng mười hai ức đại Bồ tát cung kính vây quanh đồng đến chỗ đức Nhứt Bửu Trang Nghiêm Như Lai bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Chúng tôi muốn đến Ta Bà thế giới lễ bái cúng dường Phật Thích Ca Mâu Ni.”

Đức Nhứt Bửu Trang Nghiêm Phật nói: "Các ông muốn qua đó thì tùy ý, nên phải biết thời.”

Hư Không Tạng đại Bồ tát cùng chúng đại Bồ tát liền đảnh lễ chân Phật Nhứt Bửu Trang Nghiêm, đi nhiễu bên hữu bảy vòng, thừa Phật du hí vô tác thần thông bỗng nhiên chẳng hiện, trong thời gian khoảng một niệm, đến nhà Bửu Trang Nghiêm Đường trên đài Diệu Bửu.

Hư Không Tạng đại Bồ tát mưa diệu hoa hương cúng dường Phật Thích Câu Mâu Ni, cũng cúng dường kinh Đại Phổ Tập, đó là những hoa mạn đà la, hoa ma ha mạn đà la, hoa mạn thù sa, hoa ma ha mạn thù sa, hoa ba lợi chất đa la, hoa ma ha ba lợi chất đa la, hoa lô giá na, hoa ma ha lô giá na, các loại hoa trên đất dưới nước lớn bằng bánh xe, hoa trăm cánh, ngàn cánh, hoa trăm ngàn vạn cánh, tất cả hoa đều phát ánh sáng, mùi hương vi diệu, sắc hoa hương hoa làm vui đẹp tâm nhãn mọi người. Những hoa thơm đẹp tươi sáng như vậy tuôn xuống đầy trong nhà Diệu Bửu Trang Nghiêm Đường chất cao một cây đa la. Còn có các thứ Thiên nhạc phát ra tiếng vô lượng pháp môn, những là tiếng nhạc hiệp với Đàn Ba la mật, Thi la Ba la mật, Nhẫn Ba la mật, Tiến Ba la mật, Thiền Ba la mật, Bát nhã Ba la mật, tiếng nhạc hiệp với Tứ vô lượng tâm, hiệp với Tứ nhiếp pháp, hiệp với Trợ đạo pháp, hiệp với Tam giải thoát môn, hiệp với Tứ Thánh Đế, hiệp với Thập nhị nhơn duyên.

Cúng dường xong, Hư Không Tạng Bồ tát đảnh lễ chân Phật hữu nhiễu bảy vòng rồi đứng qua một phía bạch đức Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Đức Nhất Bửu Trang Nghiêm Như Lai Ứng Cúng Đẳng Chánh Giác thăm hỏi đức Thế Tôn ít bệnh ít não đi ở an ổn vui vẻ. Đức Nhứt Bửu Trang Nghiêm Như Lai lại còn nói có mười hai ức Bồ tát cùng Hư Không Tạng Bồ tát đồng đến Ta Bà thế giới mong đức Thế Tôn vì họ nói pháp thậm thâm khiến họ được tự nhiên trí, cũng khiến họ thành tựu đại pháp quang minh rồi sẽ trở về quốc độ Đại Trang Nghiêm. Tại vì sao? Do đức Thế Tôn từ xa xưa đã từng giáo hóa chúng Bồ tát này phát tâm Vô thượng Bồ đề vậy.”

Bạch lời trên xong, Hư Không Tạng đại Bồ tát, ngay trên đỉnh đức Thế Tôn, hóa hiện lọng báu lớn rộng mười ngàn do tuần, cán bằng thanh lưu ly, cọng bằng chân san hô bửu, lợp bằng lưu ly bửu và vàng diêm phù đàn, rũ thòng những mành lưới chuỗi ngọc bằng diệu chân châu, có những linh những lạc reo tiếng hòa dịu. Lọng ấy phát sáng chiếu suốt mười phương cùng xen với các loại hoa hương đẹp sáng.

Đối với công đức bất tư nghị của đức Thế Tôn, Hư Không Tạng đại Bồ tát lòng rất kính trọng chắp tay hướng lên Phật nói kệ khen ngợi rằng:

Pháp nghĩa trí huệ đấng Tối Thắng

Bổn tịnh vô cấu vô sở trước

Như hư không chẳng nhiễm ô

Tôi lạy dưới chân Thánh bất động

Công hạnh không sánh không bờ đáy

Hiện pháp nghiêm thân rất thù thắng

Chân pháp thân Phật như hư không

Khắp trùm đại bi mà tế độ

Nhơn Thiên Đạo sư hay thị hiện

Trăm phước trang nghiêm thân Thế Tôn

Dứt các ngôn ngữ không âm vang

Lìa các ngôn thuyết không hí luận

Dầu biết như vậy mà hiện nói

Vô tánh chúng sanh khiến họ vui

Tâm chẳng phải tâm được tâm ấy

Biết được chẳng tâm tánh ảo hóa

Khéo biết chúng sanh tâm hành tánh

Mà hay chẳng trụ tâm bỉ ngã

Vì hiện oai nghi để độ chúng

Thân Thiện Thệ không tác chẳng tác

Phật biết chúng sanh theo chỗ thích

Liền hay thị hiện thân như vậy

Thế Tôn nơi pháp chẳng chấp ngã

Chẳng có nhớ tưởng trụ nơi pháp

Hay biết do pháp nào được độ

Rồi theo đáng nên nói đúng cơ

Đại chúng khát ngưỡng nhìn Thế Tôn

Hy hữu trong đời không gì sánh

Thế Tôn thị hiện mà vô tâm

Nhưng khiến đại chúng đều vui đẹp

Các pháp như vậy theo duyên sanh

Hư vô tịch mịch chẳng chân thiệt

Thế Tôn khéo biết pháp như vậy

Được đến Niết bàn đạo thanh lương

Bỏ nhị biên chẳng trụ trung đạo

Biết giả chẳng chân không tự tánh

Các pháp như vậy không tác giả

Khéo nói nghiệp quả chẳng đoạn thường

Chẳng phải chúng sanh thọ mạng nhơn

Tịch tĩnh không tên như hư không

Như thiệt phân biệt không chúng sanh

An trụ đại chúng đến cam lộ

Xưa tu nhiều kiếp bất tư nghị

Cầu sức tinh tiến đại Bồ đề

Diệu hạnh được làm nay đã thành

Nghĩa đến không đến đều tỏ biết

Tất cả các pháp thượng trung hạ

Đều biết bình đẳng thường không khác

Người trí chỗ biết biết không chấp

Vì vậy Thế Tôn định không loạn

Ấm nhập xứ giới như ảo hóa

Tam giới đều như trăng trong nước

Chúng sanh hư ngụy tánh như mộng

Do trí phân biệt nói pháp ấy

Thế nhơn giả xưng gọi đắc đạo

Thiệt không có tướng đắc không đắc

Như đạo không đắc pháp không chuyển

Như pháp không chuyển không người độ

Thế nên độ chúng khỏi tử lưu

Tự độ độ tha hết điên đảo

Khéo hay an ủi người khổ não

Mình người diệt khổ đến vô vi

Chúng sanh không sanh không Niết bàn

Chúng sanh bổn tịnh bất khả đắc

Đạo và chúng sanh dường ảo mộng

Tự giác như vậy giác nhiều người

Như trong hư không chẳng thấy sắc

Tất cả chúng sanh sắc cũng vậy

Các pháp lìa sắc lìa tướng sắc

Biết được sắc ấy thì được lìa

Dùng các dụ hay khen ngợi Phật

Chấp kiến khen Phật là báng Phật

Phật đức như không vô sai biệt

Vô hạn vô lượng là khen Phật

Lạy đấng tự tịnh cũng tịnh tha

Vô duyên vô tâm nhập vi tâm

Như Phật công đức Thế Tôn biết

Như Phật công đức nay tôi lạy

Hay biết chúng sanh không có ngã

Biết các pháp tế là ly dục

Người thấy pháp thân là thấy Phật

Tức là cúng dường mười phương Phật.

Hư Không Tạng Bồ tát nói kệ ấy rồi, liền lúc ấy nhà Đại Bửu Trang Nghiêm Đường cùng tất cả các bửu đài trên hư không chấn động sáu cách, tất cả đại chúng tâm thanh tịnh vui vẻ hớn hở khen chưa từng có đồng nói Hư Không Tạng đại Bồ tát khéo có thể nói diệu kệ ấy, nếu có thiện nam thiện nữ làm được pháp ấy thì cho đến trong mộng chẳng thấy có pháp lần lần sẽ được sư tử hống như Hư Không Tạng đại Bồ tát.

Hư Không Tạng đại Bồ tát nói những diệu kệ khen Phật rồi bạch rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Có ít điều muốn hỏi mong Thế Tôn cho phép, nếu được Phật cho phép mới dám thưa hỏi, tại sao, vì đức Thế Tôn có vô lượng tri kiến hay biết được chúng sanh các căn có thuần thục có chưa thuần thục, vì đức Thế Tôn sáng suốt trừ bỏ các tối tăm, vì đức Thế Tôn rõ nghĩa khéo nói phân biệt rành các cú nghĩa, vì đức Thế Tôn biết thời giờ chẳng quá hạn, vì đức Thế Tôn chỗ nói chẳng lầm đúng như lời mà làm chẳng sai, vì đức Thế Tôn biết thời giờ tùy sở hành của chúng sanh mà thuyết pháp, vì đức Thế Tôn khéo du hí thông đạt các thần thông, vì đức Thế Tôn khéo chân thiệt quán tâm hành của chúng sanh, vì đức Thế Tôn rất không ô nhiễm ở trong các pháp được đại tự tại, vì đức Thế Tôn tự tỏ ngộ giác liễu các pháp, vì đức Thế Tôn chế ngự tà kiến chúng sanh dạy cho họ vào chánh kiến, vì đức Thế Tôn là đại y vương có thể làm cho vô thỉ thế giới chúng sanh dứt hẳn các bịnh não, vì đức Thế Tôn đại lực thành tựu thập lực, vì đức Thế Tôn vô úy thành tựu tứ vô úy, vì đức Thế Tôn tối thắng thành tựu thập bát bất cộng pháp, vì đức Thế Tôn đại từ cứu tế tất cả chúng sanh tâm thường vô ngại, vì đức Thế Tôn đại bi hành tri kiến vô ngã cứu khổ tất cả chúng sanh, vì đức Thế Tôn đại hỷ hành thiền định giải thoát tam muội đến cứu cánh, vì đức Thế Tôn đại xả hành dứt tất cả ghét thương tâm như hư không, vì đức Thế Tôn được bình đẳng giác liễu các Phật pháp vô ngại, vì đức Thế Tôn không có lòng ghét thương cứu cánh thanh tịnh khen chê không lay động được, vì đức Thế Tôn không có hy vọng trí huệ đầy đủ nơi lợi dưỡng kính khen không mong cầu, vì đức Thế Tôn tất cả tri kiến tất cả Phật hành xứ đều đã cứu cánh. Bạch đức Thế Tôn! Tôi biết được đức Thế Tôn có vô lượng vô biên công đức thành tựu như vậy, vì thế ở trong các pháp môn tôi có ít điều muốn hỏi.”

Đức Phật nói: "Này Hư Không Tạng! Phật cho phép ông hỏi, Phật sẽ theo chỗ ông bạch hỏi làm cho ông được vui thỏa.”

Lúc ấy Công Đức Quang Minh Vương đại Bồ tát hỏi Hư Không Tạng đại Bồ tát rằng: "Nay Ngài vì ai mà muốn bạch hỏi đức Như Lai?”

Hư Không Tạng đại Bồ tát nói kệ đáp Công Đức Quang Minh Vương đại Bồ tát rằng:

Tất cả chúng sanh tâm bình đẳng

Người bình đẳng hay đến cứu cánh

Du hí trong đại bi vô cấu

Tôi vì chúng này hỏi Thế Tôn

Hay đến Chánh giác không cấu uế

Đã không do dự dứt nghi kia

Tự được tỏ thấu lợi chúng sanh

Tôi vì chúng ấy hỏi Thế Tôn

Biết ngã vô ngã không sánh bằng

Vì chúng phát tâm không chấp chúng

Hay làm chúng sanh thoát ngã kiến

Tôi vì chúng ấy hỏi Thế Tôn

Hay hộ oai nghi thuận sở hành

Tâm ấy thanh tịnh như hư không

Kiên cố bất động như Tu Di

Tôi vì chúng ấy hỏi Thế Tôn

Tinh tiến không bờ huệ không sánh

Dũng kiện hay phá oán phiền não

Kiết mình đã dứt dứt kiết người

Tôi vì chúng ấy hỏi Thế Tôn

Thích cho oai nghi điều phục tâm

Thường trụ văn giới nhẫn tiến lực

Thiền định thần thông trí huệ sáng

Tôi vì chúng ấy hỏi Thế Tôn

Thích tu Không, Vô tướng, Vô nguyện

Mà hiện thọ thân ở sanh tử

Vô sanh vô diệt đạt cam lộ

Tôi vì chúng ấy hỏi Thế Tôn

Tri kiến thậm thâm không ngằn mé

Thanh văn Duyên giác đều không bằng

Mà biết sở hành các chúng sanh

Tôi vì chúng ấy hỏi Thế Tôn

Khéo hay tỏ thấu thích chánh hạnh

Nơi chấp pháp phi pháp đã dứt

Thường ở chánh định tâm chẳng loạn

Tôi vì chúng ấy hỏi Thế Tôn

Các hiền sĩ chẳng dứt giống Phật

Hay hộ chánh pháp hộ chúng Tăng

Danh đồn tam thế chư Phật khen

Tôi vì chúng ấy hỏi Thế Tôn.”

Hư Không Tạng đại Bồ tát nói kệ đáp Công Đức Quang Minh Vương đại Bồ tát rồi bạch đức Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Thế nào là Bồ tát thật hành Đàn Ba la mật bình đẳng với hư không? Thế nào là Bồ tát hành Thi la Ba la mật, hành Nhẫn Ba la mật, hành Tiến Ba la mật, hành Thiền Ba la mật, hành Bát nhã Ba la mật bình đẳng với hư không? Thế nào là Bồ tát hành công đức, hành trí bình đẳng với hư không? Thế nào là Bồ tát chẳng rời lìa như như mà niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm Thiên, như đức Phật đã hứa khả? Thế nào là Bồ tát tu hành các pháp bình đẳng như Niết bàn? Thế nào là Bồ tát khéo phân biệt hành tướng? Thế nào là Bồ tát thọ trì pháp tạng chư Phật, tùy theo Như Lai chỗ giác ngộ tánh tướng các pháp như thiệt biết tánh tướng các pháp rồi mà chẳng thủ chẳng xả? Thế nào là Bồ tát phân biệt các chúng sanh từ vô thỉ đến nay thanh tịnh mà giáo hóa các chúng sanh? Thế nào là Bồ tát khéo thuận phát hành thành tựu Phật pháp? Thế nào là Bồ tát bất thối thần thông nơi các Phật pháp đều được tự tại? Thế nào là Bồ tát nhập pháp môn thậm thâm mà hàng Thanh văn, hàng Bích Chi Phật chẳng nhập được? Thế nào là Bồ tát nơi thập nhị nhân duyên được thắng trí phương tiện xa lìa nhị biên kiến chấp? Thế nào là Bồ tát được ấn Như Lai ấn cho như như vô phân biệt trí phương tiện? Thế nào là Bồ tát nhập môn pháp giới, tánh thấy cả pháp tánh bình đẳng? Thế nào là Bồ tát thuần chí kiên cố như kim cương, nơi Đại thừa này tâm an trụ bất động? Thế nào là Bồ tát tự thanh tịnh giới mình như Phật giới? Thế nào là Bồ tát được Đà la ni trọn chẳng thất niệm? Thế nào là Bồ tát được Như Lai gia trì biện tài vô ngại? Thế nào là Bồ tát được tự tại thị hiện thọ sanh tử? Thế nào là Bồ tát phá các oán địch lìa bỏ bốn ma? Thế nào là Bồ tát lợi ích chúng sanh trang nghiêm công đức? Thế nào là Bồ tát lúc thế gian không có Phật mà hay làm Phật sự? Thế nào là Bồ tát được hải ấn tam muội khéo có thể biết được tâm hành của tất cả chúng sanh? Thế nào là Bồ tát biết được các trần giới vô ngại? Thế nào là Bồ tát oai nghi hạnh thành tựu lìa các tối tăm được quang minh thù thắng ở trong các pháp được tự nhiên trí mau thành tựu Nhứt thiết trí hành?”

Đức Phật nói: "Lành thay, lành thay, này Hư Không Tạng! Ông khéo có thể phân biệt hỏi nơi Như Lai những diệu nghĩa như vậy. Như ông đã từng cúng dường quá khứ vô lượng chư Phật trồng các căn lành, tâm hành bình đẳng như hư không, lễ kính chư Phật đến chỗ trí huệ sáng tỏ, phát siêng tinh tiến muốn đến diệu pháp tất cả chư Phật, chẳng bỏ rời các chúng sanh đến đại từ bi cứu cánh, đã quá các ma nghiệp chẳng lìa thế pháp, dùng tâm lượng đồng hư không để thành tựu diệu pháp Đại thừa Vô thượng này.

Này Hư Không Tạng! Công đức của ông không có biên tế, khó so sánh được. Ông đã từng ở chỗ hằng hà sa số chư Phật quá khứ hỏi những sự việc ấy, ông cũng có thể tự nói. Ông nên lắng nghe khéo suy gẫm, Phật sẽ vì ông mà phân biệt giải nói các sự về được hỏi về công hạnh của chư Bồ tát, mà Phật còn giải nói hơn đây có thể được Vô thượng Đại thừa Như Lai tự nhiên trí Nhứt thiết chủng trí.”

Hư Không Tạng đại Bồ tát bạch rằng:

"Kính vâng, bạch đức Thế Tôn! Tôi nguyện thích được nghe.”

Đức Phật nói: "Này Hư Không Tạng! Thành tựu bốn pháp, Bồ tát hành Đàn Ba la mật bình đẳng với hư không: Nếu Bồ tát ở tất cả chỗ không có chướng ngại chẳng phân biệt mà hành Đàn Ba la mật, do ngã tịnh nên bố thí cũng tịnh, do bố thí tịnh nên nguyện cũng tịnh, do nguyện tịnh nên Bồ đề cũng tịnh, do Bồ đề tịnh nên nơi tất cả pháp cũng tịnh. Đây là Bồ tát thành tựu bốn pháp thật hành Đàn Ba la mật bình đẳng với hư không.

Này Hư Không Tạng! Nếu Bồ tát thành tựu tám pháp có thể tịnh Đàn Ba la mật: Lìa ngã mà bố thí, lìa vì ngã mà bố thí, lìa thương yêu mà bố thí, lìa vô minh kiến mà bố thí, lìa tướng bỉ ngã mà bố thí, lìa các suy tưởng mà bố thí, lìa hy vọng báo đáp mà bố thí, lìa bỏn xẻn ganh ghét mà bố thí, tâm bình đẳng như hư không mà bố thí. Đây là tám pháp mà Bồ tát thành tựu thì có thể tịnh Đàn Ba la mật. Tám pháp ly này gọi là tịnh thí. Như hư không không có chỗ nào là chẳng đến, Bồ tát từ tâm bố thí cũng như vậy. Như hư không chẳng phải sắc chẳng thấy được, Bồ tát hành thí chẳng y dựa nơi các sắc cũng như vậy. Như hư không chẳng cảm thọ khổ vui, Bồ tát hành thí rời lìa các sự khổ vui cũng như vậy. Như hư không không có tưởng biết, Bồ tát hành thí rời lìa các ý tưởng cũng như vậy. Như hư không là tướng vô vi, Bồ tát hành thí vô vi vô tác cũng như vậy. Như hư không hư giả vô tướng, Bồ tát hành thí chẳng y dựa thức tưởng cũng như vậy. Như hư không tăng ích tất cả chúng sanh, Bồ tát hành thí lợi ích tất cả chúng sanh cũng như vậy. Như hư không vô biên vô tận, Bồ tát hành thí ở trong sanh tử không có cùng tận cũng như vậy.

Này Hư Không Tạng! Như hóa nhơn cấp thí cho hóa nhơn không có phân biệt, không có hí luận, chẳng cầu quả báo, Bồ tát hành bố thí bỏ lìa hai bên chẳng phân biệt chẳng hí luận chẳng hi vọng quả báo cũng như vậy. Bồ tát dùng trí huệ trừ bỏ tất cả kiết sử, dùng trí phương tiện chẳng bỏ tất cả chúng sanh. Đây là Bồ tát hành Đàn Ba la mật bình đẳng với hư không vậy.

Trong pháp hội có một Bồ tát tên là Nhựt Đăng Thủ từ chỗ ngồi dậy trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay bạch đức Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Hàng Bồ tát nào có thể hành Đàn Ba la mật như vậy?”

Đức Phật nói: "Này Nhựt Đăng Thủ! Nếu Bồ tát quá các thế gian được pháp xuất thế gian, chẳng phải sắc không có thể không hiện hành, tri kiến thanh tịnh, chẳng phải tối chẳng phải sáng, lìa tất cả tướng đến tột vô tướng trí, thành tựu vô tận nhẫn, gần tri kiến của Như Lai, đã nối giới phần quyết định của Bồ tát, đã được thọ ký, được ấn bất thối chuyển ấn định, đã được quán đảnh chánh vị, đã hành thiện hạnh biết hành tướng chúng sanh, đến tất cả chỗ mà không có chỗ đến. Bồ tát như vậy có thể hành Đàn Ba la mật này.”

Lúc Phật nói pháp ấy, có một vạn tám ngàn Bồ tát thấy các pháp tánh như hư không được Vô sanh Pháp nhẫn.

Đức Phật nói với Hư Không Tạng đại Bồ tát: "Này Hư Không Tạng! Nếu Bồ tát thành tựu bốn pháp thì hành Thi la Ba la mật bình đẳng với hư không: Bồ tát biết thân như tượng trong gương, biết thanh như vang, biết tâm như huyễn ảo, biết các pháp tánh như hư không. Đây là Bồ tát thành tựu bốn pháp hành Thi la Ba la mật bình đẳng với hư không.

Này Hư Không Tạng! Bồ tát thành tựu tám pháp thì có thể hộ tịnh giới:

Các Bồ tát chẳng quên tâm Bồ đề thì hay hộ trì tịnh giới. Các Bồ tát chẳng cầu bực Thanh văn, bực Bích Chi Phật thì hay hộ tịnh giới. Bồ tát trì giới chẳng hạn cuộc nơi giới thì hay hộ tịnh giới. Bồ tát chẳng ỷ cậy các giới thì hay hộ tịnh giới. Bồ tát chẳng bỏ bổn nguyện thì hay hộ tịnh giới. Bồ tát chẳng y dựa tất cả chỗ sanh thì hay hộ tịnh giới. Bồ tát thành tựu đại nguyện thì hay hộ tịnh giới. Bồ tát khéo nhiếp các căn để diệt phiền não thì hay hộ tịnh giới. Đây là Bồ tát thành tựu tám pháp thì hay hộ tịnh giới vậy.

Này Hư Không Tạng! Như hư không rời lìa các hy vọng, Bồ tát dùng tâm không có mong cầu hay hộ tịnh giới cũng như vậy. Như hư không thanh tịnh, Bồ tát trì giới thanh tịnh cũng như vậy. Như hư không không có cấu uế, Bồ tát trì giới không có cấu uế cũng như vậy. Như hư không không có nhiệt não, Bồ tát trì giới không có nhiệt não cũng như vậy. Như hư không không có cao hạ, Bồ tát trì giới không cao không hạ cũng như vậy. Như hư không không có ổ hang, Bồ tát trì giới không có chỗ y dựa cũng như vậy. Như hư không vô sanh vô diệt cứu cánh không biến đổi, Bồ tát trì giới vô sanh vô diệt cứu cánh không biến đổi cũng như vậy. Như hư không đều có thể dung thọ tất cả chúng sanh, Bồ tát trì giới khắp có thể vận tải cũng như vậy. Bồ tát vì lợi ích chúng sanh mà có thể hộ tịnh giới.

Này Hư Không Tạng! Như trăng trong nước không có trì giới phá giới, Bồ tát rõ biết tất cả các pháp như thủy nguyệt không có trì giới phá giới cũng như vậy. Đây là Bồ tát hành Giới Ba la mật bình đẳng với hư không vậy.

Này Hư Không Tạng! Nếu Bồ tát thành tựu bốn pháp thì hành Nhẫn Ba la mật bình đẳng với hư không:

Nếu Bồ tát bị người mắng chưởi chẳng báo lại vì biết rõ vô ngã, bị người đánh chẳng báo lại vì biết rõ không nhơn, bị người giận ghét chẳng báo lại vì lìa thấy có, bị người oán thù chẳng báo lại vì bỏ lìa hai kiến chấp. Đây gọi là Bồ tát thành tựu bốn pháp hành Nhẫn Ba la mật bình đẳng với hư không.

Này Hư Không Tạng! Nếu Bồ tát thành tựu tám pháp thì có thể tịnh Nhẫn Ba la mật:

Bồ tát khéo tịnh nội thuần chí mà tu Nhẫn Ba la mật. Bồ tát khéo tịnh ngoại chẳng hy vọng mà tu Nhẫn Ba la mật. Bồ tát nơi thượng trung hạ cứu cánh vô ngại tu Nhẫn Ba la mật. Bồ tát tùy thuận pháp tánh không bị nhiễm trước mà tu Nhẫn Ba la mật. Bồ tát lìa tất cả kiến chấp đồng hư không mà tu Nhẫn Ba la mật. Bồ tát dứt tất cả giác quán đồng vô tướng mà tu Nhẫn Ba la mật. Bồ tát bỏ tất cả nguyện đồng vô nguyện mà tu Nhẫn Ba la mật. Bồ tát trừ tất cả các hành đồng vô hành mà tu Nhẫn Ba la mật. Đây gọi là đại Bồ tát thành tựu tám pháp có thể tịnh Nhẫn Ba la mật vậy.

Này Hư Không Tạng! Như hư không không có ghét không có thương, Bồ tát tu Nhẫn Ba la mật không có ghét thương cũng như vậy. Như hư không không có biến đổi, Bồ tát tâm cứu cánh không biến đổi tu Nhẫn Ba la mật cũng như vậy. Như hư không không có kém tổn, Bồ tát tu Nhẫn Ba la mật tâm cứu cánh không có kém tổn cũng như vậy. Như hư không không có sanh không có khởi, Bồ tát tu Nhẫn Ba la mật tâm không có sanh khởi cũng như vậy. Như hư không không có hí luận, Bồ tát tu Nhẫn Ba la mật tâm không có hí luận cũng như vậy. Như hư không không có ân báo, Bồ tát tu Nhẫn Ba la mật với tất cả chúng sanh chẳng mong quả báo cũng như vậy. Như hư không vô lậu vô hệ phược, Bồ tát tu Nhẫn Ba la mật lìa tất cả lậu chẳng hệ phược tam giới cũng như vậy.

Này Hư Không Tạng! Bồ tát lúc hành Nhẫn Ba la mật chẳng có quan niệm họ đến mắng tôi tôi có thể nhịn chịu, cũng chẳng thấy người mắng kẻ bị mắng và cách mắng, chẳng quan niệm ấy, chẳng hí luận rằng họ rỗng không tôi cũng rỗng không, cũng chẳng suy nghĩ rằng âm thanh như vang do gì mà phát ra, cũng chẳng quan niệm rằng tôi phải còn họ thì quấy, cũng chẳng quan niệm rằng họ vô thường tôi cũng vô thường, cũng chẳng nghĩ rằng họ ngu tôi trí, cũng chẳng tưởng rằng chúng ta nên hành nhẫn nhục.

Này Hư Không Tạng! Như có người vì cầu nhánh cây sa la nên cầm búa bén vào rừng sa la đến một cây sa la lớn chặt lấy một nhánh, các nhánh sa la khác chẳng nghĩ rằng họ chặt nhánh ấy mà chẳng chặt tôi, nhánh bị chặt cũng chẳng nghĩ rằng tôi đã bị chặt các nhánh khác không bị chặt, tất cả nhánh bị chặt cùng chẳng bị chặt đều chẳng có quan niệm ghét thương. Lúc hành Nhẫn Ba la mật, đại Bồ tát quán biết tất cả pháp tánh như cỏ cây tường vách ngói đá, mà thị thân thể bị chặt chém đứt rời để giáo hóa chúng sanh, không có giận ghét, không có thương yêu, hoàn toàn không có nhớ nghĩ phân biệt. Đây là Bồ tát hành Nhẫn Ba la mật bình đẳng với hư không.

Này Hư Không Tạng! Nếu Bồ tát thành tựu bốn pháp thì hành Tinh tiến Ba la mật bình đẳng với hư không:

Bồ tát siêng cầu tất cả pháp lành mà biết tất cả pháp tự tánh chẳng thành tựu, Bồ tát đem tất cả món vật cần dùng tối thắng cung cấp cúng dường chư Phật Thế Tôn nhưng chẳng thấy có Như Lai và các món cúng dường, Bồ tát khéo có thể thọ trì diệu pháp được nói của tất cả chư Phật cũng chẳng thấy có văn tự để thọ trì, Bồ tát có thể thành tựu vô lượng chúng sanh thấy chúng sanh tánh tức là Niết bàn rốt ráo không có sanh không có khởi. Đây là bốn pháp Bồ tát thành tựu hành Tiến Ba la mật bình đẳng với hư không.

Này Hư Không Tạng! Nếu Bồ tát thành tựu tám pháp thì có thể tịnh Tinh Tiến Ba la mật:

Bồ tát vì tịnh thân mà phát cần tinh tiến biết thân như bóng trong gương chẳng tham trước nơi thân. Bồ tát vì tịnh khẩu nên phát cần tinh tiến biết tiếng từ miệng thốt ra như vang chẳng tham trước nơi khẩu. Bồ tát vì tịnh ý nên phát hành tinh tiến biết ý như ảo huyễn không có phân biệt chẳng tham trước nơi ý. Bồ tát vì đầy đủ các Ba la mật nên phát cần tinh tiến biết các pháp không có tự tánh bị nhiếp thuộc nhân duyên chẳng nên hí luận. Bồ tát vì được trợ Bồ đề phần pháp nên phát cần tinh tiến để giác liễu tất cả pháp chân thiệt tánh không bị chướng ngại vướng mắc. Bồ tát vì tịnh Phật quốc độ nên phát cần tinh tiến để biết tất cả quốc độ như hư không vì vậy mà chẳng ỷ thị được chỗ tịnh. Bồ tát vì được tất cả Đà la ni nên phát cần tinh tiến biết tất cả pháp không có niệm chẳng phải không có niệm do đây mà không có quan niệm hai tướng. Bồ tát vì thành tựu tất cả Phật pháp nên phát cần tinh tiến để biết tất cả pháp nhập nhứt tướng bình đẳng nhưng chẳng hoại hư pháp tánh. Đây là tám pháp Bồ tát thành tựu thì có thể tịnh Tinh tiến Ba la mật.

Này Hư Không Tạng! Như hư không không có mỏi mệt, Bồ tát trong vô lượng kiếp phát cần tinh tiến không có mỏi mệt cũng như vậy. Như hư không đều có thể dung thọ tất cả sắc tượng mà hư không không có che chướng. Bồ tát vì dung thọ tất cả chúng sanh mà phát cần tinh tiến bình đẳng vô ngại cũng như vậy. Như hư không có thể sanh tất cả cỏ cây lùm rừng mà hư không không có trụ xứ. Bồ tát vì tăng ích thiện căn tất cả chúng sanh mà phát cần tinh tiến không chỗ dựa dính không có trụ xứ cũng như vậy. Như hư không đến tất cả chỗ mà không có đi đến. Bồ tát vì đến tất cả chỗ nên phát cần tinh tiến mà không có đến không có không đến cũng như vậy. Như hư không chẳng phải sắc hình mà trong hư không thấy các thứ sắc hình. Bồ tát vì Nhứt thừa nên phát cần tinh tiến mà vì thành tựu thuần chí nên thị hiện các thừa sai biệt cũng như vậy. Như hư không bổn tánh thanh tịnh không bị khách trần làm ô nhiễm. Bồ tát phát cần tinh tiến bổn tánh thanh tịnh vì chúng sanh mà hiện thọ thân sanh tử nhưng chẳng bị trần lụy làm ô nhiễm cũng như vậy. Như hư không tánh là thường không có vô thường. Bồ tát cứu cánh vì chẳng dứt mất Tam bửu nên phát cần tinh tiến cũng như vậy. Như hư không vô thỉ vô chung chẳng thủ chẳng xả. Bồ tát phát cần tinh tiến vô thỉ vô chung bất thủ bất xả cũng như vậy.

Này Hư Không Tạng! Tinh tiến có hai thứ đó là ban đầu phát tinh tiến và rốt sau thành tinh tiến. Bồ tát do ban đầu phát cần tinh tiến tu tập thành tất cả pháp lành, do rốt sau thành tinh tiến phân biệt tất cả pháp chẳng có tự tánh, chỉ có căn lành đã được tu tập thấy là bình đẳng, sở kiến bình đẳng cũng chẳng phải bình đẳng.

Này Hư Không Tạng! Như người thợ điêu khắc tượng người gỗ có đủ thân tướng, sự nghiệp được làm đều có thể hoàn thành, nhưng nơi có làm cùng chẳng có làm đều chẳng có quan niệm sai biệt. Bồ tát vì thành tựu trang nghiêm bổn nguyện mà phát cần tinh tiến tu tất cả nghiệp, nơi làm cùng chẳng làm không quan niệm sai biệt, bỏ lìa hai bên cũng như vậy. Đây là Bồ tát hành Tiến Ba la mật bình đẳng như hư không.

Này Hư Không Tạng! Thế nào là Bồ tát hành Thiền Ba la mật bình đẳng như hư không? Bồ tát nếu thành tựu bốn pháp thì hành Thiền Ba la mật bình đẳng với hư không:

Bồ tát chuyên nhiếp nội tâm mà chẳng thấy có nội tâm, Bồ tát ngăn tâm duyên các cảnh giới ngoài mà chẳng thấy có tâm ngoài hành xứ, Bồ tát do tâm mình bình đẳng nên biết tất cả chúng sanh tâm đều bình đẳng cũng chẳng y dựa hai pháp là tâm và bình đẳng, Bồ tát tư duy pháp giới định tánh không có nhiếp thâu không có loạn tán biết tất cả pháp tánh không có hí luận. Thành tựu bốn pháp như vậy, Bồ tát hành Thiền Ba la mật bình đẳng với hư không.

Này Hư Không Tạng! Nếu Bồ tát thành tựu tám pháp thì có thể tịnh Thiền Ba la mật:

Bồ tát chẳng y dựa các ấm để tu thiền, chẳng y dựa các giới để tu thiền, chẳng y dựa các nhập để tu thiền, chẳng y dựa tam giới để tu thiền, chẳng y dựa hiện thế để tu thiền, chẳng y dựa đạo để tu thiền, chẳng y dựa hiện thế để tu thiền, chẳng y dựa quả để tu thiền. Đây là Bồ tát thành tựu tám pháp hay tịnh Thiền Ba la mật.

Này Hư Không Tạng! Như hư không không có dựa dính. Bồ tát tu thiền không có y chỉ cũng như vậy. Như hư không không có ái luyến. Bồ tát tu thiền không có nhiễm trước cũng như vậy. Như hư không không có dính mắc các kiến chấp. Bồ tát tu thiền bỏ lìa các kiến chấp cũng như vậy. Như hư không không có kiêu mạn. Bồ tát tu thiền bỏ lìa kiêu mạn cũng như vậy. Như hư không cứu cánh vô diệt. Bồ tát tu thiền khéo nhập vào pháp tánh cứu cánh bất thối cũng như vậy. Như hư không chẳng thể phá hoại. Bồ tát tu thiền chẳng hoại bổn tế cũng như vậy. Như hư không không có biến đổi. Bồ tát tu thiền chẳng biến đổi như như cũng như vậy. Như hư không chẳng phải tâm rời lìa tâm. Bồ tát tu thiền rời lìa tâm ý thức cũng như vậy.

Này Hư Không Tạng! Bồ tát dùng tâm bình đẳng tu thiền chẳng phải tâm chẳng bình đẳng.

Thế nào là tâm bình đẳng? Nếu tâm chẳng cao chẳng hạ, không có cầu không chẳng cầu, không có tác không chẳng tác, không có phân biệt không chẳng phân biệt, không có hành không chẳng hành, không có thủ không có xả, không tối không sáng, vô tri vô niệm, không chẳng tri không chẳng niệm, chẳng một chẳng khác, chẳng phải hai chẳng phải chẳng hai, không có động không chẳng động, không có khứ không chẳng khứ, không có tu không chẳng tu, tâm chẳng duyên nơi tất cả cảnh giới, đây gọi là tâm bình đẳng.

Vì Bồ tát tâm bình đẳng nên chẳng duyên lấy sắc bỏ lìa nhãn và sắc hai pháp mà tu tập thiền. Vì tâm bình đẳng nên chẳng duyên lấy thanh hương vị xúc và pháp bỏ lìa hai pháp ý và pháp mà tu tập thiền.

Này Hư Không Tạng! Như hư không lúc đại hỏa tai khởi lên chẳng đốt cháy được, lúc đại thủy tai khởi lên chẳng đẩy trôi được, Bồ tát chẳng bị lửa lớn phiền não đốt cháy, chẳng bị các thiền tam muội cuốn trôi đi thọ sanh, tự mình không có định và loạn mà hay khiến chúng sanh loạn tâm được định, sở hành của mình đã thanh tịnh mà chẳng bỏ tinh tiến, bình đẳng với hư không mà thị hiện sai biệt nhưng chẳng thấy tướng bình đẳng và bất bình đẳng, khéo hay khắp quán trí huệ chân tánh tâm Bồ tát chẳng bị ái kiến phiền não che chướng, ở trong các pháp hành, thật hành không bị dính mắc bình đẳng với hư không. Đây là Bồ tát hành Thiền Ba la mật bình đẳng với hư không vậy.

Này Hư Không Tạng! Thế nào là Bồ tát hành Bát nhã Ba la mật bình đẳng với hư không? Bồ tát thành tựu bốn pháp thì hành Bát nhã Ba la mật bình đẳng với hư không.

Do vì ngã tịnh nên Bồ tát biết chúng sanh cũng tịnh, vì trí tịnh nên biết thức cũng tịnh, vì nghĩa tịnh nên biết văn tự cũng tịnh, vì pháp giới tịnh nên biết tất cả pháp cũng tịnh. Đây là bốn pháp mà Bồ tát thành tựu thì hành Bát nhã Ba la mật bình đẳng như hư không.

Này Hư Không Tạng! Nếu Bồ tát thành tựu tám pháp thì có thể tịnh Bát nhã Ba la mật:

Bồ tát tinh cần muốn đoạn dứt tất cả pháp bất thiện mà chẳng dính mắc đoạn kiến, Bồ tát tinh cần muốn sanh tất cả pháp lành mà chẳng dính mắc thường kiến, Bồ tát biết tất cả pháp hữu vi đều từ duyên sanh mà chẳng động nơi vô sanh pháp nhẫn, Bồ tát phân biệt nói tất cả tự cú mà thường bình đẳng không có ngôn thuyết, Bồ tát khéo biện tất cả pháp hữu vi vô thường khổ vô ngã mà nơi pháp giới tịch tĩnh chẳng động, hay khéo phân biệt các nghiệp sở tác mà biết tất cả pháp vô nghiệp vô báo, khéo hay phân biệt pháp cấu pháp tịnh mà biết tất cả pháp tánh thường tịnh, khéo hay suy lường tam thế các pháp mà biết các pháp không có quá khứ vị lai hiện tại. Đây là Bồ tát thành tựu tám pháp hay tịnh Bát nhã Ba la mật.

Này Hư Không Tạng! Như hư không chẳng phải hành chẳng phải không hành, Bồ tát hành Bát nhã Ba la mật lìa tất cả hành cũng như vậy. Như hư không không gì phá hoại được, Bồ tát hành Bát nhã Ba la mật tất cả các ma không phá hoại được cũng như vậy. Như hư không tánh thường tịch tĩnh, Bồ tát hành Bát nhã giác kiến đều tịch tĩnh cũng như vậy. Như hư không tánh thường vô ngã, Bồ tát hành Bát nhã biết rõ vô ngã cũng như vậy. Như hư không tánh chẳng phải chúng sanh, Bồ tát hành Bát nhã rời lìa kiến chấp chúng sanh cũng như vậy. Như hư không tánh không có thọ mạng, Bồ tát hành Bát nhã lìa thọ mạng kiến cũng như vậy. Như hư không tánh không có nhơn, Bồ tát hành Bát nhã lìa nhơn kiến cũng như vậy. Như hư không chẳng phải vật chẳng phải chẳng vật chẳng đặt tên hiệu được, Bồ tát hành Bát nhã rời lìa vật chẳng phải vật cũng như vậy.

Này Hư Không Tạng! Bát nhã là cú nghĩa tịch tĩnh vì không có tri giác vậy. Bát nhã là cú nghĩa vô tác vì tự tướng thanh tịnh vậy. Bát nhã là cú nghĩa vô biến vì không có hành tướng vậy. Bát nhã là cú nghĩa chân thiệt vì chẳng phát động vậy. Bát nhã là cú nghĩa chẳng khi dối vì không có sai khác vậy. Bát nhã là cú nghĩa liễu đạt vì nhập vào nhứt tướng vậy. Bát nhã là cú nghĩa thông minh vì dứt tập khí vậy. Bát nhã là cú nghĩa đầy đủ vì không có muốn cầu vậy. Bát nhã là cú nghĩa thông đạt vì hay chánh kiến vậy. Bát nhã là cú nghĩa đệ nhứt vì vô sở đắc vậy. Bát nhã là cú nghĩa bình đẳng vì không có cao không có hạ vậy. Bát nhã là cú nghĩa lao cố vì không gì phá hoại được vậy. Bát nhã là cú nghĩa bất động vì không có sở y vậy. Bát nhã là cú nghĩa kim cương vì không gì xô dẹp được vậy. Bát nhã là cú nghĩa đã độ vì việc làm đã xong vậy. Bát nhã là cú nghĩa chân tịnh vì bổn tánh tịnh vậy. Bát nhã là cú nghĩa không tối vì chẳng cậy sáng vậy. Bát nhã là cú nghĩa vô nhị vì chẳng tích tụ vậy. Bát nhã là cú nghĩa tận vì cứu cánh tận tướng vậy. Bát nhã là cú nghĩa vô tận vì tướng vô vi vậy. Bát nhã là cú nghĩa vô vi vì rời lìa sanh diệt vậy. Bát nhã là cú nghĩa hư không vì không có chướng ngại vậy. Bát nhã là cú nghĩa vô sở hữu vì chân thiệt thanh tịnh vậy. Bát nhã là cú nghĩa vô xứ vì không có hành tích vậy. Bát nhã là cú nghĩa không có ổ hang vì không chỗ dựa ỷ vậy. Bát nhã là cú nghĩa trí vì không có thức phân biệt vậy. Bát nhã là cú nghĩa không hàng phục vì không có bầy bọn vậy. Bát nhã là cú nghĩa vô thể vì không có thọ thân hình vậy. Bát nhã là cú nghĩa tri kiến vì biết khổ chẳng sanh vậy. Bát nhã là cú nghĩa đoạn dứt vì biết tập chẳng hòa hiệp vậy. Bát nhã là cú nghĩa diệt vì cứu cánh vô sanh vậy. Bát nhã là cú nghĩa đạo vì không có hai giác quán vậy. Bát nhã là cú nghĩa giác vì giác bình đẳng vậy. Bát nhã là cú nghĩa pháp vì cứu cánh bất biến vậy.

Này Hư Không Tạng! Bát nhã này chẳng từ người mà được vì là tri kiến tự chứng như tánh mà hiện hành vậy. Biết văn cú nghĩa như vang, ở nơi ngữ ngôn âm thanh tùy đáng nên mà đáp ứng biện thuyết chẳng dứt nhưng chẳng nắm dính văn tự ngôn thuyết. Đại Bồ tát có thể ở trong tất cả ngôn thuyết khéo có thể báo đáp, biết các âm thanh ngôn thuyết như vang vì hiểu là bất khả đắc vậy nên chẳng chấp trước cũng chẳng hí luận. Đây là Bồ tát hành Bát nhã Ba la mật bình đẳng với hư không.”

Muốn sáng tỏ lại nghĩa này, đức Thế Tôn nói kệ rằng:

Lìa chấp trước mà làm bố thí

Khắp đến vừa theo đánh chúng sanh

Thí xong rồi tâm không chướng ngại

Cũng chẳng có sanh lòng phân biệt

Vì ngã tịnh nên thí thanh tịnh

Vì thí tịnh nên nguyện thanh tịnh

Vì nguyện tịnh nên Bồ đề tịnh

Vì đạo tịnh nên tất cả tịnh

Không ngã tưởng không ngã sở tưởng

Rời lìa ái lìa các kiến chấp

Bỏ lìa tất cả tướng bỉ ngã

Tâm bố thí dường như hư không

Bỏ lìa tất cả tưởng mà thí

Không có tâm mong cầu báo đáp

Bỏ lìa tâm tật đố kiết sử

Tâm bố thí như hư không kia

Hư không chẳng phải sắc không dựa

Không thọ không tưởng không phân biệt

Cũng không hành cũng không có thức

Lúc bố thí tâm như hư không

Như hư không lợi ích tất cả

Từ thỉ đến chung không cùng tận

Hiểu rõ pháp thí vô cùng tận

Lợi ích cho tất cả chúng sanh

Như hóa nhơn thí cho hóa nhơn

Chẳng trông mong sở thí được báo

Người có trí huệ thí cũng vậy

Trọn hẳn chẳng trông mong báo đáp

Dùng huệ dứt trừ các kiết sử

Phương tiện lực chẳng bỏ chúng sanh

Chẳng thấy có kiết sử chúng sanh

Bố thí như vậy đồng hư không

Biết rõ thân như tượng trong gương

Biết thanh âm như vang ứng tiếng

Biết rõ tâm như ảo như hóa

Pháp tánh vô ngại như hư không

Chẳng bỏ Vô thượng đại Bồ đề

Chẳng cầu Thanh văn Duyên giác thừa

Thường kính trọng hộ trì tịnh giới

Của tất cả chư Phật quá khứ

Vì chẳng quên bỏ bổn thệ nguyện

Nên có thể ở trong các loài

Khéo có thể thành tựu bổn nguyện

Nhiếp ý cần hộ trì tịnh giới

Như hư không không có hi vọng

Không nhiệt não không có cao hạ

Không trược nhơ cũng không biến đổi

Người trí trì giới cũng như vậy

Như hư không dung thọ tất cả

Như trăng trong nước chẳng trì giới

Người hộ trì giới phải như vậy

Tịnh giới như hư không thủy nguyệt

Mắng chửi đánh đập cùng thù giận

Vì sức nhẫn nhục nên chẳng sân

Không thấy có mình không có người

Do bỏ lìa tưởng có kia đây

Nội tâm thuần chí thiện thanh tịnh

Cảnh hành ngoài đều cũng thanh tịnh

Do vì thuần chí nên không sân

Tùy thuận pháp như hay nhẫn nhục

Rời lìa các kiến như hư không

Bỏ giác quán cũng lìa niệm tưởng

Không có nguyện không có hi vọng

Bỏ các hành pháp và sở thủ

Không có ái luyến như hư không

Chẳng cợt đùa chẳng hoài oán hận

Không có hí luận không cầu báo

Vô lậu nhẫn nhục là như vậy

Không người nhẫn không người mắng đánh

Tiếng người mắng chửi dường như vang

Là không thiệt cũng là vô thường

Không có những hí luận như vậy

Không nghĩ người ngu ta là trí

Không có sanh mà thị hiện sanh

Cũng vẫn không có phân biệt ấy

Đây là tu hành vô sanh nhẫn

Như nhánh sa la bị người chặt

Nhánh khác chẳng nghĩ không bị chặt

Thân bị chém đứt không phân biệt

Nhẫn nhục này tịnh như hư không

Siêng tu không sở y sở trụ

Cúng dường Phật không quan niệm Phật

Thọ trì chánh pháp chẳng trước văn

Độ chúng sanh không thấy chúng sanh

Thân nghiệp tịnh cũng tịnh pháp thân

Khẩu nghiệp tịnh không có ngôn thuyết

Tâm nghiệp tịnh không có ý hành

Đầy đủ tất cả Ba la mật

Đầy đủ pháp trợ Bồ đề phần

Quốc độ thanh tịnh như hư không

Thành tựu biện tài Đà la ni

Cầu được các Phật pháp như vậy

Như hư không chẳng mệt chẳng mỏi

Hay sanh trưởng cỏ cây lùm rừng

Đến khắp mọi nơi không hình sắc

Tinh tiến không mỏi như hư không

Hằng thường thanh tịnh như hư không

Không có thỉ cũng không có chung

Người tu tinh tiến cũng như vậy

Không có thỉ không có chung thành

Như người máy do gỗ tạo thành

Tất cả việc làm không có phân biệt

Người tu hành không có hai tưởng

Tinh tiến như vậy như hư không

Biết Xa ma tha trụ nội tâm

Nhiếp thâu tâm duyên cảnh giới ngoài

Tâm của mình và tâm của người

Đây là y chỉ vô tâm thiền

Các pháp tánh thường không lặng vắng

Dùng vô lậu trí biết rõ được

Chẳng dựa ngũ ấm lục nhập giới

Cũng chẳng y chỉ trong ba cõi

Chẳng y chỉ quá vị hiện tại

Chẳng y chỉ đạo hành quả chứng

Như hư không kia thường vô y

Người tu thiền này cũng vô y

Hư không chẳng có ái kiến mạn

Người tu thiền cũng không phiền não

Hư không chẳng thối chẳng hư biến

Người tu thiền cũng giống như vậy

Thường bình đẳng không tịch giải thoát

Người trí thường chẳng quan niệm giới

Không kiết sử cũng không có thiền

Vì vậy mà thiền như hư không

Vì ngã tịnh nên chúng sanh tịnh

Vì trí tịnh nên thức cũng tịnh

Vì nghĩa tịnh nên văn tự tịnh

Vì pháp tịnh nên giới cũng tịnh

Dứt pháp bất thiện và tập khí

Bực Đại sĩ tích tập thiện căn

Nên biết hữu vi là duyên sanh

Nhưng chẳng trước vô sanh vô diệt

Khéo có thể phân biệt văn tự

Nói các pháp vô thường và khổ

Nhưng vẫn thị hiện thọ nghiệp báo

Nói có pháp và pháp tịnh

Biết rõ pháp tánh cũng thanh tịnh

Mà suy lường quá vị hiện tại

Hư không không hành không chẳng hành

Huệ không có hành cũng như vậy

Như hư không chẳng gì phá được

Không có ngã nhơn không thọ mạng

Chẳng phải vật chẳng phải không vật

Bỏ dứt các chấp kiến nhị biên

Biết cú là giả nên chẳng nhiễm

Là bất biến cú chân thiệt cú

Là mãn túc cú thông đạt cú

Liễu đạt nhứt nghĩa và huệ cú

Bình đẳng bất động lao cố cú

Kim cương dĩ độ chân tịnh cú

Thông minh cú tận vô tận cú

Là vô vi cú hư không cú

Không xứ không ổ không thức biệt

Không hàng phục vô thể là trí cú

Không tập không diệt không đạo cú

Là pháp là giác trí huệ cú

Như vang kia ứng theo thanh âm

Bồ tát vô tận biện cũng vậy

Thuyết pháp vô y vô sở đắc

Bát nhã này tịnh như hư không.