Home Kinh bộ bắc truyền Kinh Đại Bảo Tích V.17 Pháp hội Phú-lâu-na
22 | 11 | 2008
V.17 Pháp hội Phú-lâu-na PDF. In Email
Kinh bộ bắc truyền - Kinh Đại Bảo Tích
Viết bởi Thích Trí Tịnh   
Chỉ mục bài viết
V.17 Pháp hội Phú-lâu-na
Pháp hội Phú-lâu-na phẩm 3-4
Pháp hội Phú-lâu-na 5-hết
Tất cả các trang

Phú Lâu Na bạch Thế Tôn! Nay tôi vì chư Đại sĩ mà hỏi sự như vậy. "Bồ tát tu tập đa văn như biển cả chẳng cạn hết thế nào? Hay chứa họp đa văn bửu tạng hay ở các pháp được nghĩa quyết định ở các ngữ ngôn giỏi rõ chương cú thế nào? Bạch Thế Tôn! Nay tôi tùy theo trí lực của tự địa mà thỉnh hỏi đức Như Lai và chư đại Bồ tát thế nào được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề?"

Kinh Đại Bảo Tích Tập V

Việt dịch: Hòa thượng Thích Trí Tịnh

(Trọn bộ 9 tập)

Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh Ấn hành – PL. 2538 – DL. 1994

Mục lục Tập V

Chương XVII: PHÁP HỘI PHÚ LÂU NA - THỨ MƯỜI BẢY

Phẩm Bồ Tát Hạnh – Thứ Nhứt

Phẩm Đa Văn – Thứ Hai

Phẩm Bất Thối – Thứ Ba

Phẩm Cụ Thiện Căn – Thứ Tư

Phẩm Thần Thông Lực – Thứ Năm

Phẩm Đại Bi – Thứ Sáu

Phẩm Đáp Nạn – Thứ Bảy

Phẩm Phú Lâu Na – Thứ Tám

Chương XVIII: PHÁP HỘI HỘ QUỐC BỒ TÁT - THỨ MƯỜI TÁM

Chương XIX: PHÁP HỘI ÚC GIÀ TRƯỞNG GIẢ - THỨ MƯỜI CHÍN

Chương XX: PHÁP HỘI VÔ TẬN PHỤC TẠNG - THỨ HAI MƯƠI

Chương XXI: PHÁP HỘI THỌ KÝ ẢO SƯ BẠT ĐÀ LA - THỨ HAI MƯƠI MỐT

Chương XXII: PHÁP HỘI ĐẠI THẦN BIẾN - THỨ HAI MƯƠI HAI

Chương XXIII: PHÁP HỘI MA HA CA DIẾP - THỨ HAI MƯƠI BA

Chương XXIV: PHÁP HỘI ƯU BA LY - THỨ HAI MƯƠI BỐN

Chương XXV: PHÁP HỘI PHÁT THẮNG CHÍ NGUYỆN - THỨ HAI MƯƠI LĂM

Chương XVII: PHÁP HỘI PHÚ LÂU NA - THỨ MƯỜI BẢY

Hán dịch: Dao Tần, Pháp sư Cưu Ma La Thập.

Việt dịch: Việt Nam, Tỳ kheo Thích Trí Tịnh.

PHẨM BỒ TÁT HẠNH - THỨ NHỨT

Như vầy tôi nghe một lúc đức Phật trong Trúc Viên thành Vương Xá cùng câu hội với chư đại Tỳ kheo và chư đại Bồ tát số ấy đông vô lượng.

Bấy giờ Huệ Mạng Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử từ chỗ ngồi đứng dậy trịch y vai hữu gối hữu chấm đất chắp tay hướng Phật mà bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Tôi muốn hỏi ít lời mong Như Lai xót thương hứa cho.”

Đức Phật phán: “Tùy ý ông hỏi, ta sẽ giải đáp cho ông vui mừng.”

Tôn giả Phú Lâu Na bạch đức Phật: “Nay tôi vì chư đại Bồ tát là những người thật hành công đức cao thượng danh tiếng cao xa thường vì chúng sanh cầu sự an vui mà có lời thỉnh hỏi.”

Huệ Mạng Phú Lâu Na nói kệ rằng:

“Làm công đức tối thượng

Danh tiếng rất cao xa

Người giới tịnh ưa pháp

Tôi hỏi sở hành ấy

Sửa trị tâm thế nào

Rộng bố thí thế nào

Độ chúng sanh thế nào

Hỉ tâm thường hành đạo.

Bạch Thế Tôn! Nay tôi vì chư Đại sĩ mà hỏi sự như vậy. Bồ tát tu tập đa văn như biển cả chẳng cạn hết thế nào? Hay chứa họp đa văn bửu tạng hay ở các pháp được nghĩa quyết định ở các ngữ ngôn giỏi rõ chương cú thế nào?

Bồ tát thế nào cầu

Đa văn như biển cả

Nơi pháp được định nghĩa

Hay giỏi biết Phật đạo

Thế nào ở một lời

Mà hiểu vô lượng nghĩa

Hay dùng sức trí huệ

Thông đạt tất cả pháp

Đa văn vô cùng tận

Gạn hỏi lòng chẳng động

Xót thương mà thuyết pháp

Để dứt chúng sanh nghi.

Bạch Thế Tôn! Nay tôi tùy theo trí lực của tự địa mà thỉnh hỏi đức Như Lai và chư đại Bồ tát thế nào được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ đề?

Thế nào rời lìa nạn

Được gặp gỡ chư Phật

Mau được tin thanh tịnh

Được tin Vô thượng rồi

Bỏ được sự khó bỏ

Vứt bỏ tất cả rồi

Gắng tu đạo vô ngại

Thế nào ưa xuất gia

Nhàn tĩnh tu không trí

Thế nào chẳng nghịch pháp

Mong đáp đủ sự ấy.

Bạch Thế Tôn! Chúng tôi đều biết đức Phật đã đủ tất cả trí huệ đã trọn tất cả Thần thông Ba la mật, ở trong tam giới là cao tôn đệ nhứt không ai sánh được, đại trí vi diệu đi không chướng ngại nơi trong các pháp, vì thế nên nay tôi thỉnh hỏi sự ấy.

Phật đủ thượng công đức

Đã vượt bờ thần thông

Được trí không chướng ngại

Tôi vì Bồ tát hỏi

Giỏi học tất cả pháp

Công đức rất cao thắng

Phá tối sanh huệ sáng

Khiến chúng đều hoan hỉ

Oán thân không ghét thương

Không lo không khi dối

Đại chiến thắng vua chết

Dẹp phá chúng quân ma

Chẳng cầm nơi dao gậy

Hàng phục các oán địch

Thường có lòng từ bi

Bền giữ giới thanh tịnh

Thế Tôn không siểm khúc

Không mạn không cợt đùa

Chứng được trí giải thoát

Công đức rất tối thắng

Như xưa chỗ hành đạo

Thắng trí huệ đã được

Mong nay vì tôi nói

Tu thế nào được Phật.”

Bấy giờ đức Phật bảo Ngài Phú Lâu Na rằng: “Lành thay tốt thay, ông có thể hỏi Phật sự như vậy. Lắng nghe suy nghĩ kỹ, sẽ vì ông mà nói chư Bồ tát phát tâm tu hành chứa họp Vô Lượng Phật pháp.”

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Nay ta nói Bồ tát

Sơ phát tâm Bồ đề

Thường dùng sức dũng mãnh

Ưa làm đạo Bồ tát

Sở hành của Bồ tát

Các công hạnh thâm tâm

Nơi Phật được thọ ký

Sự ấy sẽ lược nói

Thâm tâm lòng ưa pháp

Vô lượng và vô biên

Các thứ công hạnh tu

Chẳng do một sự thành

Hỉ tâm đã sung mãn

Mà thật hành bố thí

Thí xong lòng không hối

Trong tâm càng vui mừng

Bồ tát suy nghĩ rằng

Chúng sanh thường nghèo cùng

Không có của đa văn

Tôi sẽ cầu cho họ

Chúng sanh thường nghèo cùng

Đều do nơi giải đãi

Tôi sẽ siêng tinh tiến

Từ đó được Bồ đề

Tôi sẽ vì chúng sanh

Gia tâm tu nhẫn nhục

Mắng nhiếc chửi đánh chém

Nín nhận chẳng hề báo

Sẽ nghĩ ai mắng tôi

Kẻ mắng bất khả đắc

Người mạ lị sân hận

Thảy đều là không sự

Suy nghĩ như vậy rồi

Lòng không có giận hờn

Thường tu hành nhẫn nhục

Do đây thành Phật đạo

Chúng sanh không tâm lành

Vì họ tôi làm đèn

Cho họ có chỗ về

Không của cho họ của

Chúng sanh đáng xót thương

Đều cùng đi đường tà

Tôi sẽ độ thoát họ

Khiến an trụ Niết bàn

Chúng sanh đều nghèo cùng

Không có của trí huệ

Tôi được Nhứt thiết trí

Khiến họ được sung túc

Chư Bồ tát như vậy

Vì độ chúng sanh nên

Phát tâm cầu Bồ đề

Hành các nguyện như vậy.

Này Phú Lâu Na! Chư đại Bồ tát nhiều thứ nhơn duyên thị hiện tâm mình chẳng trụ một pháp nào cả. Tại sao vậy? Vì chư đại Bồ tát học tất cả pháp rồi sau đắc đạo. Bồ tát có bốn sự hi hữu, chẳng thấy có pháp khác hơn sự ấy. Những gì là bốn?

Bồ tát có thể ở nơi chúng sanh giải đãi mà siêng tu hành tinh tấn, đây gọi là sự hi hữu thứ nhứt.

Bồ tát có thể ở giữa chúng sanh ngang ngược giận thù mà siêng tu hành nhẫn nhục, đây gọi là sự hi hữu thứ hai.

Bồ tát thấy các chúng sanh đi đường tà mà tự mình siêng tu hành chánh đạo, đây gọi là sự hi hữu thứ ba.

Bồ tát vì độ chúng sanh chuyển khỏi sanh tử mà dùng thâm tâm phát Vô thượng Bồ đề, đây gọi là sự hi hữu thứ tư.

Bốn sự trên đây gọi là bốn sự hi hữu tối đại của Bồ tát.”

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Thấy chúng sanh giải đãi

Lòng siêng tu tinh tấn

Tôi chẳng nên theo họ

Mà làm sự phi pháp

Chẳng bắt chước giận thù

Phật đạo chẳng giận thù

Thường tu tâm từ bi

Bồ đề từ đó sanh

Chúng sanh ưa đường tà

Y chỉ nơi tà đạo

Bồ tát cầu chánh đạo

Khiến người tu nẻo chánh

Thấy lỗi họa sanh tử

Nhứt tâm cầu Phật trí

Tôi được pháp Vô thượng

Sẽ độ các chúng sanh

Bốn sự hi hữu ấy

Sự khác không hơn được

Do đây nên phải biết

Được rời pháp chướng ngại

Giả như áo mặc cháy

Đầu cháy còn chẳng chữa

Lòng giải đãi nếu khởi

Liền phải mau trừ diệt.

Này Phú Lâu Na! Bồ tát có bốn sự hay sanh tâm hỉ. Những gì là bốn?

Một là thấy các chúng sanh ở trong sanh tử chẳng tinh tấn được. Bồ tát tự thấy mình ở trong Phật đạo tu hành tinh tấn bèn sanh hỉ tâm.

Hai là thấy các chúng sanh lòng họ thường giải đãi, Bồ tát tự thấy mình ở trong Phật pháp tu tinh tấn nên sanh hỉ tâm.

Ba là thấy các chúng sanh sân hận tật đố, Bồ tát tự thấy mình không sân không đố thường có lòng từ bi nên sanh hỉ tâm.

Bốn là Bồ tát chẳng thấy người khác siêng tu Phật pháp bằng mình nên sanh hỉ tâm.”

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Thấy chúng sanh giải đãi

Tự mình tu tinh tấn

Vì thế Bồ tát này

Tự sanh lòng vui sướng

Thấy sanh tử lỗi họa

Mà sanh lòng chán lìa

Kinh sợ ngục tam giới

Lòng siêng cầu bỏ lìa

Chúng sanh ưa giận thù

Tự mình thường từ bi

Vì thế Bồ tát này

Lòng luôn khởi vui vẻ

Các việc chúng sanh làm

Thường là việc chẳng nên

Vì thế Bồ tát cầu

Phật đạo tối Vô thượng

Đây gọi là thiệt trí

Được chư Phật khen ngợi

Bồ tát học trí này

Làm chỗ về cho chúng

Vì thế Bồ tát này

Thường được lòng vui mừng

Từ hữu vi hư ngụy

Thường sanh pháp chân thiệt.

Lại này Phú Lâu Na! Bồ tát có bốn pháp xa lìa được các nạn mà gặp chỗ không nạn, được gặp rồi không mất có thể tu hành Phật pháp. Những gì là bốn?

Một là Bồ tát khiêm tốn dịu hòa, hễ thấy người thì chào hỏi trước, hòa nhan vui vẻ cùng họ nói chuyện, lúc nói luôn mỉm cười.

Hai là Bồ tát nhứt tâm cầu pháp thường ưa thưa hỏi siêng cầu học hiểu không hề nhàm đủ.

Ba là Bồ tát thường thích rảnh rang vắng vẻ một mình.

Bốn là tự mình an trụ đạo Vô thượng Bồ đề cũng giáo hóa chúng sanh an trụ Phật đạo.

Bồ tát có bốn pháp trên đây nên được khỏi các nạn gặp được chỗ không nạn, gặp rồi chẳng mất có thể tu hành Phật pháp.”

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Trong lòng luôn hòa dịu

Thường ưa làm từ bi

Lúc cùng người nói chuyện

Khiêm tốn vui mỉm cười

Thường cầu pháp thâm diệu

Được chư Phật khen ngợi

Luôn giữ giới thanh tịnh

Ưa tu hạnh đầu đà

Dầu tu hạnh đầu đà

Cũng tu trí thâm diệu

Vì thế Bồ tát này

Lìa nạn gặp không nạn

Thường ở trước chư Phật

Thỉnh hỏi những pháp sâu

Do đó trí huệ tăng

Chẳng sanh vào chỗ nạn

Thường thích ở vắng rảnh

Thanh tịnh tu đầu đà

Vì thế Bồ tát này

Lìa nạn gặp không nạn

Những người có trí huệ

Thân cận bốn pháp này

Lìa được tất cả nạn

Thường được gặp chư Phật

Được gặp chư Phật rồi

Có đủ bất hoại tín

Hay phát thượng tinh tấn

Để cầu Phật trí huệ

Vì thế người cầu trí

Phải nên học chánh pháp

Nếu hay học chánh pháp

Được thành Phật chẳng khó.”

PHÁP HỘI PHÚ LÂU NA

PHẨM ĐA VĂN - THỨ HAI

Đức Thế Tôn bảo Ngài Phú Lâu Na: “Bồ tát có bốn pháp thì hay tu tập đa văn bửu tạng, hay ở nơi các pháp được nghĩa quyết định, hay ở nơi các ngữ ngôn giỏi biết chương cú, dường như đại hải chẳng cạn hết được. Những gì là bốn?

Một là Bồ tát cầu học mười hai bộ kinh, cầu học rồi đọc tụng, đọc tụng rồi ghi nhớ, ghi nhớ đúng rồi thật hành theo.

Hai là Bồ tát ở trong tất cả pháp không y chỉ, dầu nhập thiền định mà không sở y chỉ, vì không sở y nên ở trong các pháp được trí bất trụ, được trí bất trụ rồi ở trong các pháp được tri kiến vô ngại, tại sao vậy, vì không có pháp bị tham làm chướng ngại vậy.

Ba là Bồ tát do pháp nhơn duyên mà niệm Phật và niệm Pháp. Lúc niệm Phật và niệm Pháp, Bồ tát chẳng thấy có pháp được tham ưa. Vì chẳng tham ưa nên ở nơi tất cả pháp lòng không nắm lấy. Vì không chấp trước tất cả pháp nên Bồ tát ở nơi sự vấn đáp đều không chướng ngại.

Bốn là Bồ tát thành tựu, vô sở đắc từ ở nơi việc làm đều vô ngại. Vô sở đắc từ là chẳng nhận thọ các sự tướng, tại sao vậy, vì nếu trụ tướng này hay trụ tướng kia thì hoặc sanh tham dục hoặc sanh sân khuể hoặc sanh ngu si, trụ tướng, sự tướng, vật tướng, ấm tướng, nhập tướng, giới tướng, pháp tướng phi pháp đều hoặc sanh tham dục sân khuể ngu si. Phàm có nhận thọ sự tướng đều gọi là tà kiến. Bồ tát đều diệt tất cả tướng mà tu tập từ tâm vậy.

Vì chúng sanh bại hoại nên tướng cũng bại hoại, vì tướng bại hoại nên sự cũng bại hoại, vì sự bại hoại nên kiến cũng bại hoại. Bấy giờ Bồ tát hoại tất cả pháp mà tu tập tâm từ. Từ như đây gọi là vô sở đắc từ, cũng gọi là Pháp từ và Phật từ.

Tại sao gọi là Phật từ, vì vô tác vô hoại vậy, vì như thiệt thông đạt tất cả pháp vậy.”

Ngài Phú Lâu Na bạch: “Bạch Thế Tôn! Thế nào gọi là như thiệt thông đạt tất cả pháp?”

Đức Phật dạy: “Này Phú Lâu Na! Chỗ được thông đạt đó chẳng nói là thị pháp, chẳng nói là phi pháp. Tại sao vậy, vì nếu nói có pháp thì tức là phi pháp. Nếu ở nơi pháp hữu pháp vô mà không có phi pháp thì ở trong ấy không có hí luận, nếu không hí luận thì gọi là Niết bàn. Ông quan sát kỹ coi là cực viễn hay cực cận?

- Bạch Thế Tôn! Chẳng xa chẳng gần. Tại sao, vì nghĩa như vậy không phương không xứ không nội không ngoại.

- Này Phú Lâu Na! Đúng như vậy, đức Như Lai ở nơi pháp tác số.

- Bạch Thế Tôn! Ở nơi pháp nào mà đức Như Lai vì nó tác số?

- Này Phú Lâu Na! Như các phàm phu chấp trước các pháp, đức Như Lai chẳng được chẳng tu chẳng chứng chẳng thông đạt, pháp như vậy Như Lai vì nó tác số.

Này Phú Lâu Na! Các pháp số ấy chẳng để phân biệt pháp vậy. Nay vì ông mà nói pháp tịch diệt đệ nhứt có thể nhiếp được Phật đạo.

Này Phú Lâu Na! Đời sau có người ưa theo thế lợi, nếu nghe kinh này họ chẳng thích nghe nhận.

Này Phú Lâu Na! Bồ đề này của Phật, các ông chỉ do âm thanh chương cú mà biết chút ít thôi, còn nghĩa thú trong ấy các ông chẳng biết. Nghĩa thú ấy sâu xa chẳng thể lấy lời mà tuyên bày được, chỉ có người trí mới có thể khế hội được thôi.”

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Người chẳng biết được nghĩa

Nghe Phật pháp thì khổ

Nếu người biết được nghĩa

Phật làm thầy cho họ

Người được Phật làm thầy

Thì ưa cầu Niết bàn

Không có lòng tránh tụng

Hay suy gẫm chánh pháp

Trong ấy không pháp sanh

Cũng không có pháp diệt

Không sanh cũng không diệt

Là thiệt tướng các pháp

Nếu pháp đã không sanh

Thì không có tác khởi

Thị phi cùng nhứt dị

Trong pháp ấy đều không

Đây gọi là Niết bàn

Trong ấy không có diệt

Nếu nói cực viễn cận

Hai thứ ấy đều không

Nếu người biết được không

Thì gọi biết Niết bàn

Nếu người biết Niết bàn

Thì gọi đệ tử Phật.

Này Phú Lâu Na! Bồ tát có bốn pháp này thì có thể tu tập đa văn bửu tạng, có thể ở nơi các pháp được quyết định nghĩa, ở nơi ngữ ngôn giỏi biết chương cú, dường như đại hải chẳng cạn hết được.”

Đức Thế Tôn nói kệ rằng:

“Thường muốn cầu đa văn

Được chư Phật khen ngợi

Được thiệt nghĩa quyết định

Vì thế như đại hải

Có thể trong một chữ

Và với nghĩa một câu

Suốt ngàn vạn ức kiếp

Diễn nói mãi không hết

Thế nên cầu chánh pháp

Cầu được rồi suy gẫm

Chớ tham lấy pháp tướng

Chẳng tham được Phật khen

Tưởng nhớ chư Như Lai

Và nhớ nơi chánh pháp

Chẳng dùng lòng tham tranh

Mà cầu nơi Đạo sư

Thường nơi các chúng sanh

Tu hành lòng từ mẫn

Mà chẳng chấp chúng sanh

Tan diệt tất cả pháp

Bồ tát danh tiếng lớn

Tu tập pháp như vậy

Mau được Đà la ni

Đa văn từ đây sanh

Dường như tánh hư không

Không tăng cũng không giảm

Pháp tánh cũng như vậy

Không tăng và không giảm

Phật dùng sức trí huệ

Thuyết pháp vô lượng kiếp

Thuyết pháp vô lượng số

Còn chẳng gọi là thuyết

Hết các tánh chúng sanh

Đều khiến được thân người

Đều cùng tu xuất gia

Đa văn như A Nan

Đà la ni Bồ tát

Vì tất cả người ấy

Thuyết pháp ngàn ức kiếp

Trí huệ vẫn chẳng hết

Phật trí huệ vô đẳng

Đồng hư không vô lượng

Hư không không sanh khởi

Trí huệ cũng như vậy

Như rồng chẳng lấy nước

Mà hay mưa nhiều nước

Nước ấy không chỗ trụ

Mưa xuống không cùng tận

Bồ tát cũng như vậy

Được Đà la ni này

Các pháp không chỗ trụ

Thuyết pháp không cùng tận

Thế nên cầu đa văn

Cầu rồi chánh tư duy

Dùng pháp duyên niệm Phật

Đa văn từ đây sanh

Lòng từ khắp chúng sanh

Tan diệt tướng chúng sanh

Cũng diệt các pháp tướng

Đa văn từ đây sanh.”